Anh hùng Lực lượng vũ trang

PHẠM THÁI BƯỜNG - DẤU CHÂN NGƯỜI ĐI GIỮA LỬA ĐẠN MIỀN TÂY

Đồng chí Phạm Thái Bường (Ba Bường), sinh năm 1915 tại Mỹ Cẩm, Càng Long, Trà Vinh, là một nhà lãnh đạo cách mạng kiên trung của miền Tây Nam Bộ. Từ sớm giác ngộ cách mạng, ông giữ nhiều trọng trách quan trọng như Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Bến Tre; Bí thư Khu ủy Khu 9; Ủy viên Trung ương Cục miền Nam và Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trải qua tù đày, chiến tranh ác liệt và những năm tháng bám dân, bám đất, ông luôn thể hiện bản lĩnh vững vàng, phong cách giản dị, gần dân. Cuộc đời và sự n

Vĩnh Long23/12/2025Đoàn Trường Đại học Trà Vinh (Đoàn Trường Đại học Trà Vinh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi nghe kể về đồng chí Phạm Thái Bường trong những buổi chiều lặng gió bên dòng sông quê Trà Vinh. Dòng sông ấy đã chứng kiến một thời hoa lửa, nơi có một người con sinh ra từ làng quê nghèo Mỹ Cẩm, Càng Long, nhưng mang trong tim cả vận mệnh của miền Tây Nam Bộ.

Người ta gọi ông bằng nhiều cái tên: Phạm Thái Bường, Lê Thành Nhân, hay thân thương nhất là Ba Bường – cái tên mộc mạc của người con thứ trong gia đình nông dân Nam Bộ. Ông sinh năm 1915, khi đất nước còn chìm sâu trong đêm dài nô lệ. Tuổi trẻ của ông không có những ngày bình yên. Sớm chứng kiến cảnh dân làng lầm than, sưu cao thuế nặng, những trận đòn roi của thực dân Pháp giáng xuống người lao động, trong ông nhen lên một ngọn lửa âm thầm mà bền bỉ.

Năm 1938, giữa lúc phong trào cách mạng còn non trẻ, ông hòa mình vào Hội Ái hữu, lặng lẽ vận động trong giới thợ thủ công. Cũng năm ấy, tháng Sáu định mệnh, ông được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đó, cuộc đời ông rẽ sang một hướng khác – hướng của hiểm nguy, tù đày, nhưng cũng là hướng của lý tưởng và niềm tin không gì lay chuyển.

Đầu năm 1939, ông trở thành Ủy viên Tỉnh ủy lâm thời Trà Vinh. Trong bóng tối của những đêm họp bí mật, ông cùng đồng chí gây dựng từng chi bộ, từng hạt giống đỏ giữa vùng quê sông nước. Cuối năm ấy, những chi bộ đầu tiên ra đời như những đốm lửa nhỏ, chờ ngày bùng cháy.

Đầu năm 1940, ông được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Nhưng cách mạng không cho phép ông dừng lại lâu. Phong trào ở Bến Tre bị đàn áp dữ dội, Bí thư Tỉnh ủy bị bắt. Xứ ủy Nam Kỳ điều ông sang Bến Tre – vùng đất đang rướm máu. Ở đó, ông gấp rút dựng lại cơ sở, kết nối lực lượng, chuẩn bị cho cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Bến Tre rung chuyển. Nhân dân vùng lên, súng nổ, cờ đỏ tung bay. Nhưng lực lượng quá chênh lệch. Khởi nghĩa thất bại. Thực dân Pháp trả thù bằng những cuộc đàn áp đẫm máu. Ông bị bắt, bị kết án 10 năm tù, bị đưa qua Khám Lớn Sài Gòn, rồi đày ra Côn Đảo – nơi địa ngục trần gian nuốt chửng bao người cộng sản.

Nhưng nhà tù không khuất phục được ông. Giữa xích xiềng, đòn roi, ông vẫn giữ vững niềm tin sắt đá vào ngày mai độc lập.

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Ông trở về đất liền, tiếp tục làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Những ngày đầu non trẻ của chính quyền cách mạng, ông cùng đồng chí lo từng hạt gạo, từng khẩu súng, tổ chức huấn luyện cán bộ, xây dựng lực lượng an ninh, bảo vệ Đảng giữa vòng vây thù địch.

Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược, ông lại vào rừng, lại bám dân, bám đất. Ông làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, rồi Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức. Những năm tháng ấy, ông đi không ngơi nghỉ giữa Vĩnh Long – Trà Vinh – Bến Tre, mang theo kinh nghiệm, bản lĩnh và một phong cách lãnh đạo gần dân, sát dân.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm chia cắt. Miền Nam bước vào giai đoạn mới đầy cam go. Ông là Ủy viên Xứ ủy Nam Bộ, Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây, rồi Ủy viên Trung ương Cục miền Nam. Khi chiến tranh leo thang ác liệt, ông lại được giao những nhiệm vụ nặng nề nhất: Bí thư Khu ủy Khu 9, phụ trách cả vùng sông nước rộng lớn, nơi bom đạn Mỹ dội xuống ngày đêm.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, dấu ấn chỉ đạo của ông in đậm trên từng mặt trận miền Tây. Sau Mậu Thân, ông phụ trách công tác an ninh toàn miền Nam, góp phần bảo vệ cơ quan đầu não của cách mạng trong những năm khốc liệt nhất.

Tháng 3 năm 1972, ông được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đó là sự ghi nhận cho cả một đời lăn lộn giữa lửa đạn, hi sinh thầm lặng mà kiên cường.

Tháng 1 năm 1974, trong cơn bệnh nặng, người chiến sĩ cộng sản ấy khép lại cuộc đời ở tuổi 59, khi đất nước vẫn còn chia cắt. Ông ra đi trước ngày toàn thắng, nhưng con đường ông mở, những nền móng ông xây, đã góp phần làm nên mùa xuân đại thắng năm 1975.

Người đời nhớ đến Phạm Thái Bường không chỉ ở những chức danh, huân chương, mà ở hình ảnh một người cán bộ giản dị, gần dân, không ngại hiểm nguy, luôn đi đến những nơi khó khăn nhất. Tên ông hôm nay được đặt cho những con đường ở Trà Vinh, Vĩnh Long, như một lời nhắc nhở lặng thầm: đã có một người con miền Tây đi trọn đời mình giữa thời hoa lửa, để đất nước nở hoa độc lập, tự do.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn