Phạm Thanh Quyết
Gia Bảo
nh hùng Phạm Thanh Quyết sinh năm 1950, là người dân tộc Tày, quê ở xã Hồng Định, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Tháng 8-1970, Phạm Thanh Quyết nhập ngũ. Năm 1971-1972, Phạm Thanh Quyết được giao nhiệm vụ trinh sát, nắm tình hình địch. Anh cùng đơn vị được phân công chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên - chiến trường ác liệt nhất lúc bấy giờ.
Năm 1971, khi hoạt động ở chiến trường Trị - Thiên, mặc dù địch tổ chức nhiều cánh quân, nhiều trận địa phục kích và ra sức lùng sục các thôn xóm hòng đẩy ta ra khỏi địa bàn chiến đấu, nhưng lực lượng cách mạng vẫn kiên trung bám đất, bám dân. Phạm Thanh Quyết đã dũng cảm vượt qua rất nhiều nguy hiểm, bốn lần thâm nhập căn cứ Đông Hà, hàng chục lần thâm nhập căn cứ Ái Tử, Đồng Lâm để nắm tình hình địch, giúp tiểu đoàn xây dựng phương án tác chiến tốt.
Trong trận đánh căn cứ Đồng Lâm đêm 8-5-1971, Phạm Thanh Quyết dẫn tổ vượt qua 9 hàng rào, nhiều vọng gác, tiến sâu vào căn cứ, phá hủy 11 kho xăng, đạn. Riêng anh trực tiếp phá hủy 6 kho vũ khí của địch.
Trận đánh ở trận địa pháo dã chiến (bắc Song Mỹ Chánh), ngày 26-10-1972, địch bố trí ở vòng ngoài trận địa nhiều tuyến và bộ binh chốt giữ, bên trong lại luôn thay đổi vị trí đặt pháo, Phạm Thanh Quyết mưu trí dẫn phân đội vừa trinh sát nắm địch, vừa tiến đánh địch. Khi nổ súng, ngay phút đầu, đã tiêu diệt được khu trung tâm và sau 20 phút chiến đấu, phân đội đã diệt 200 tên địch, phá hủy 9 khẩu pháo, 15 xe quân sự. Riêng anh phá hủy 2 khẩu pháo, diệt 15 tên.
Trận đánh khu kho Tân Điền, sau nhiều ngày chịu đựng mưa rét để trinh sát, tháng 11-1972, Phạm Thanh Quyết dẫn một tổ vượt qua 7 lớp rào có gài mìn vướng nổ, phá hủy 10 kho xăng, đạn. Riêng anh phá hủy 3 kho đạn, chứa 1 vạn quả đạn pháo.
Phạm Thanh Quyết được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, một lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.
Ngày 23-9-1973, Phạm Thanh Quyết được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Thượng sĩ, Trung đội trưởng đặc công thuộc Đại đội 91, Tiểu đoàn 35, Bộ Tư lệnh Đặc công .


