PHẠM THỊ BAY – NGƯỜI NỮ CHỈ HUY BÁM ĐẤT, GIỮ LÀNG
Phạm Thị Bay, tức Ba Bay, sinh năm 1940 tại xã Hưng Mỹ, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Minh Hải. Tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi, bà trưởng thành từ một chiến sĩ du kích thành cán bộ xã đội, vừa lãnh đạo phong trào quần chúng vừa trực tiếp tổ chức chiến đấu. Trong những năm 1970–1975, bà góp phần xây dựng lực lượng, chỉ huy du kích, bao vây bức rút nhiều đồn bốt và đưa Hưng Mỹ, Tân Hưng Đông tự giải phóng trước tháng 4/1975. Ngày 6/11/1978, Phạm Thị Bay được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Năm 1955, trên vùng đất Hưng Mỹ của huyện Trần Văn Thời, có một cô gái mới tròn 15 tuổi đã bước vào hàng ngũ dân quân. Cô gái ấy là Phạm Thị Bay, người sau này được đồng đội và nhân dân thân mật gọi là Ba Bay. Từ tuổi thiếu niên cho đến ngày đất nước thống nhất là một hành trình hơn hai mươi năm bà gắn cuộc đời mình với quê hương, với những xóm làng và những người dân giữa vùng chiến tranh khốc liệt.
Từ một chiến sĩ du kích, Phạm Thị Bay từng bước trưởng thành thành cán bộ xã đội. Nhưng dù ở cương vị nào, bà vẫn chọn cách sống và chiến đấu rất gần với nhân dân: bám đất, bám dân, dựa vào dân để xây dựng lực lượng và giữ vững phong trào.
Những năm từ 1970 đến tháng 4 năm 1975 là giai đoạn thử thách đặc biệt. Phạm Thị Bay vừa làm Bí thư Đảng ủy xã, vừa kiêm nhiệm công tác xã đội, lần lượt tại hai xã Hưng Mỹ và Tân Hưng Đông. Trách nhiệm đặt trên vai người nữ cán bộ ấy không chỉ là tổ chức chiến đấu, mà còn phải củng cố cơ sở, động viên đảng viên, xây dựng lực lượng du kích và tập hợp nhân dân giữa những đợt kiểm soát, càn quét.
Bà hiểu rằng muốn giữ được làng, trước hết phải giữ được lòng dân.
Vì thế, bên cạnh hoạt động quân sự, Phạm Thị Bay nhiều lần trực tiếp dẫn đầu nhân dân đấu tranh chống bắt lính, chống phá nhà cửa. Bà tổ chức kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận, tạo thành sức ép liên tục nhằm từng bước làm suy yếu hệ thống đồn bốt tại địa phương.
Khó khăn lớn nhất lúc ấy là thiếu vũ khí.
Nhưng thiếu không có nghĩa là chịu bó tay.
Phạm Thị Bay cùng nhân dân đi tìm những quả bom, đạn chưa nổ còn sót lại sau những trận đánh phá. Theo tài liệu tuyên dương, bà đã vận động quần chúng thu nhặt được tới 2.000 quả, đưa về tận dụng làm lựu đạn, mìn và thủ pháo phục vụ chiến đấu.
Những vật liệu chiến tranh vốn được sử dụng để đánh phá quê hương, qua bàn tay và ý chí của lực lượng tại chỗ, lại trở thành phương tiện bảo vệ chính mảnh đất ấy.
Từ những đội du kích nhỏ bé, lực lượng ngày càng trưởng thành.
Trong vòng 4 năm, Phạm Thị Bay đã chỉ huy du kích chiến đấu, theo tài liệu ghi nhận, làm 130 quân đối phương thiệt mạng, thu 50 khẩu súng, đồng thời tổ chức bao vây, buộc lực lượng tại 20 đồn bốt phải rút đi và tác động làm nhiều binh lính rời bỏ hàng ngũ.
Nhưng điều đáng chú ý trong cuộc đời chiến đấu của Phạm Thị Bay không chỉ nằm ở những con số.
Đó còn là cách bà biến sức mạnh của nhân dân thành sức mạnh của cả một địa bàn.
Mỗi cơ sở được củng cố là thêm một điểm tựa. Mỗi người dân tham gia đấu tranh là thêm một phần sức mạnh. Mỗi đồn bốt bị cô lập là thêm một khoảng quê hương được giành lại.
Cứ như thế, thế kiểm soát của đối phương tại địa phương từng bước bị thu hẹp.
Và rồi thành quả lớn nhất đã đến.
Không phải chờ đến khi những cánh quân chủ lực tiến về trong mùa Xuân 1975, lực lượng tại chỗ dưới sự lãnh đạo của địa phương đã từng bước giải phóng hai xã Hưng Mỹ và Tân Hưng Đông trước tháng 4 năm 1975.
Đó là kết quả của nhiều năm bám đất.
Nhiều năm bám dân.
Nhiều năm gây dựng lực lượng từ chính những con người bình dị của quê hương.
Từ cô gái 15 tuổi tham gia dân quân năm 1955, Phạm Thị Bay đã đi qua hơn hai thập niên chiến tranh để trở thành một người cán bộ vừa làm công tác chính trị, vừa tổ chức lực lượng, vừa trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Ở bà có sự gan dạ của người du kích, bản lĩnh của người chỉ huy và khả năng tập hợp quần chúng của một cán bộ cơ sở.
Với những thành tích ấy, Phạm Thị Bay được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất và Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.
Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Phạm Thị Bay danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Hơn hai mươi năm đi từ một cô gái du kích tuổi mười lăm đến người nữ cán bộ lãnh đạo và chỉ huy lực lượng tại quê hương, Phạm Thị Bay đã để lại dấu ấn của một con người kiên trì bám đất, bám dân và không lùi bước trước gian khó. Từ những vũ khí được tận dụng giữa chiến trường, những cuộc đấu tranh của nhân dân đến 20 đồn bốt bị buộc phải rút và hai xã tự giải phóng, câu chuyện của Ba Bay là câu chuyện về sức mạnh của chiến tranh nhân dân – khi một người phụ nữ bình dị cùng đồng bào mình đứng lên gìn giữ từng xóm làng, từng tấc đất quê hương cho đến ngày toàn thắng.



