Phạm Thị Hảo
Thâm tâm tôi mờ mờ hiện ra: Rồi sau này sẽ còn nhiều người nữa, những người còn đây và cả mình nữa cũng sẽ ra đi như các anh Mầm, Thắng, Tiến A, Tiến B… Tôi không buồn lắm nhưng lại nhớ nhà nhiều. Tuổi học trò đã mãi mãi qua đi, để bước vào cuộc sống thực sự dữ dội, một cuộc sống mà chưa bao giờ suy nghĩ đến.
Mấy ngày ở hậu cứ, vốn đã yếu nhiều do sốt rét, rồi do bị thương làm tôi quỵ hẳn. Cơn sốt lại trở lại hành hạ. Những lúc sốt cao, mê man, thấy toàn ảo ảnh không đầu, không cuối. Những lúc tỉnh dậy, tôi cố chống gậy, tìm nơi có ánh sáng mặt trời xuyên qua tán lá cây dọi xuống để sưởi nắng. Toàn đơn vị cũng có khá nhiều người thể trạng như tôi. Trung đoàn không có điều kiện tổ chức điều dưỡng nên đã tập trung đưa chúng tôi xuống vùng giải phóng nhờ nhân dân nuôi dưỡng.Trung đội thông tin có tôi, Ngoạn và Thiệp cùng đi. Sau ba ngày chống gậy hành quân bộ, chúng tôi về lại xã Hóa Trung, Hiệp Đức. Ba chúng tôi được đưa về nhà ông Hường, ăn nghỉ tại đây. Việc ăn uống do gia đình ông chăm sóc. Kả nhà ông có bốn người, hai vợ chồng và hai con nhỏ, đứa lớn nhất khoảng mười một, mười hai tuổi. Ba chúng tôi được chăm sóc chu đáo. Thời gian sống với gia đình ông ngắn ngủi nhưng đầm ấm. Ở đây ít khi có bom đạn địch bắn phá, nhưng mỗi khi nghe có tin địch sắp đổ bộ vào khu này là ông bà Hường lại đưa chúng tôi lên xã đội để đi sơ tán.Hơn một tháng sau, đơn vị về đón chúng tôi đi. Sức khỏe bọn tôi đã khá hơn nhiều. Chúng tôi từ biệt ông bà Hường. Cả ông bà và hai em đều mong chúng tôi sớm về thăm gia đình. Nhưng cho đến nay tôi cũng chưa có dịp nào thăm lại ông bà. Không biết chiến tranh có làm thay đổi gì gia đình ông không. Cầu mong gia đình ông bình yên.Trở về đơn vị - trở về cuộc sống trong rừng sâu, cuộc sống an toàn hơn nhưng cũng kham khổ hơn. Thời gian ở căn cứ chúng tôi tập trung học tập chính trị, huấn luyện kỹ thuật cá nhân. Nửa tháng lại xuống đồng bằng lấy gạo một lần, một lần đi về mất bốn năm ngày.Gần như tháng nào tôi cũng viết thư về quê hương. Thư gửi đi theo đường giao liên, nhưng sau này tôi mới biết hầu như gia đình không nhận được gì.Tháng 12 năm 1966, toàn trung đoàn hành quân xuống đồng bằng. Tiểu đoàn tôi xoay quanh các xã huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước đóng quân, không vị trí nào chúng tôi ở quá 2 ngày. Chúng tôi được ở trong nhà dân, ban ngày hạn chế đi lại, thường trực chiến đấu bất kể khi nào, mọi hoạt động ra ngoài chủ yếu vào ban đêm. Ngày nào máy bay trinh sát của Mỹ cũng lượn, cũng quần đảo trên bầu trời xóm làng. Nếu phát hiện điều khác lạ thế nào cũng gọi máy bay oanh tạc ngay. Kinh nghiệm này người lính như tôi ai cũng biết và cả dân làng thường nhắc chúng tôi giữ bí mật.Giáp đường số Một từ phía Tây sang phía Đông là vùng địch kiểm soát. Pháo binh ở các căn cứ Thăng Bình, Quế Sơn, Tam Kỳ đều có thể bắn phá khu vực chúng tôi đứng chân. Nếu muốn sang Đông đường Một phải đi ban đêm, có người bám địch, dẫn đường chặt chẽ mới đi được.Ngày 11 tháng 12 năm 1966, tôi được giao nhiệm vụ làm tải thương đi theo Đại đội Sáu, luồn sâu vào lòng địch ở phía Đông huyện Thăng Bình, đánh vào lực lượng Ngụy đang càn ở đây. Đêm luồn sâu tập kích, trận này có hiệu quả cao. Khoảng 3h sáng, anh Thư đại đội phó bị thương. Tôi, Thiệp và Bưởi cáng anh ra và dong thêm 3 tù binh… bì bọp suốt đêm vượt qua các ấp chiến lược, trời sáng rõ mới tới được đường sắt. Máy bay trực thăng lao đến bắn đuổi theo các trục đường lui quân. Chúng tôi phải liều mạng, lúc chạy, lúc nằm, lại vướng ba tên tù bình nên mãi đến 8h sáng mới tới vị trí giao thương binh. May mắn cả ba chúng tôi an toàn cả. Sau vụ này chúng tôi hiểu được: gặp máy bay trực thăng bám đuổi thì khi nào phải ẩn nấp, khi nào phải chạy cho nhanh để tránh hỏa lực, tránh địch trên máy bay phát hiện.Đêm 27 tháng 12 năm 1966, tiểu đoàn nhận lệnh: phục kích, đánh địch trên đường số Một đoạn đi qua huyện Thăng Bình. Đêm hành quân rồi cả ngày giấu mình trong cánh đồng mía cao lút đầu người. Trận này tôi là lính thông tin, ôm máy bám theo đồng chí tham mưu trưởng tiều đoàn nên phải cơ động nhiều. Mãi đến chiều địch mới xuất hiện. Tiểu đoàn nổ súng, diệt nhiều địch song không làm chủ trận địa được do gần các căn cứ địch, địch phản ứng lại mạnh bằng phi pháo, tiểu đoàn phải lui về sau. Trận này một mảnh pháo xé vỡ máy điện thoai743 của tôi, nhưng tôi vẫn an toàn.Sau trận này, toàn tiểu đội lui về phía Tây quận Thanh Bình, là vùng giải phóng giáp với núi rừng của huyện Hiệp Đức củng cố lực lượng.Năm 1967, đầu năm đơn vị được bổ sung tân binh. Trung đội thông tin được thêm ba đồng chí quê ở Quảng Nam cũng đã từng là du kích. Và dơn vị chuẩn bị đón tết. Tết đầu tiên trong chiến trường, đơn giản về vật chất, không có những cuộc thăm viếng, chúc tết nhau. Mà chúng tôi lúc nào cũng phải súng đạn bên người, đêm thì hành quân, ngày mệt lả, chỉ thèm ngủ mà thôi. Năm 1967 cũng là năm thử thách lớn nhất với tôi từ khi làm lính, là khoảng thời gian trực tiếp chiến đấu dài nhất, gian khổ nhất từ ngày đặt chân vào chiến trường Quảng Nam.Bom đạn, địch họa dần dần cũng qua đi, những phản ứng bất ngờ trước cái chết cận kề cũng mau lẹ hơn. Tôi bớt đi được cái tính thèm ngủ ngay cả khi ác liệt nhất, kinh nghiệm cuộc sống chiến trường dày dạn hơn. Ai trong chúng tôi cũng hiểu dấu hiệu thế nào là địch sắp đổ quân; khi nào phải nằm xuống, phải chạy khi pháo và bom tọa độ của địch trút xuống lúc hành quân cũng như trú quân. Cả trong sắp xếp hành trang của mình cũng vậy, cái gì phải luôn ở bên mình ngoài súng đạn ra. Cái thắt lưng to luôn được thắt ngang người với các loại bất ly thân là lựu đạn, bông băng cá nhân, bi đông, tăng, võng, xẻng… và cái bật lửa. Có đến ngủ mê cũng không thể thiếu những thứ đó bên mình



