PHẠM THỊ NỮ – NGƯỜI PHỤ NỮ DÀNH TRỌN CUỘC ĐỜI CHO CÁCH MẠNG
Lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam được viết nên từ sự hy sinh của hàng triệu người con ưu tú. Trong số đó, có những người phụ nữ đã chấp nhận đánh đổi cả tuổi thanh xuân, hạnh phúc gia đình và những người thân yêu nhất để cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cuộc đời của Bà Mẹ Việt Nam anh hùng Phạm Thị Nữ là một minh chứng tiêu biểu cho lòng trung kiên, ý chí bất khuất và đức hy sinh cao cả của người phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ XX.
Phạm Thị Nữ sinh năm 1928 tại ấp Tân Hòa, xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước. Gia đình có năm anh em, trong đó ba người con trai đều tham gia quân đội, chỉ còn người em gái út ở nhà chăm sóc cha mẹ. Chính môi trường ấy đã nuôi dưỡng trong bà tinh thần yêu quê hương và ý thức trách nhiệm đối với đất nước ngay từ khi còn rất trẻ.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Phạm Thị Nữ nhanh chóng tham gia các hoạt động cách mạng tại địa phương. Năm 1946, bà được tín nhiệm giao nhiệm vụ Hội trưởng Phụ nữ xã. Với lòng nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm, bà tích cực vận động phụ nữ tham gia các phong trào yêu nước, chăm lo hậu phương và hỗ trợ lực lượng kháng chiến.
Một năm sau, bà được điều lên huyện làm công tác giao liên. Trong điều kiện chiến tranh vô cùng gian khổ, người giao liên giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là cầu nối giữa các cơ sở cách mạng, chuyển tài liệu, thư từ và mệnh lệnh trong bí mật. Mỗi chuyến đi đều phải đối mặt với nguy cơ bị phục kích, bắt giữ hoặc hy sinh. Dẫu vậy, bà vẫn luôn hoàn thành nhiệm vụ với tinh thần dũng cảm, mưu trí và tuyệt đối trung thành với tổ chức.
Tháng 6 năm 1949, Phạm Thị Nữ được kết nạp vào Đảng. Đây là niềm vinh dự lớn nhưng cũng là thời điểm bà phải đối mặt với biến cố đau thương nhất của cuộc đời. Cũng trong năm ấy, chồng bà là ông Dương Văn Phải, một chiến sĩ du kích của xã Tân Phú Trung, đã anh dũng hy sinh khi đang chiến đấu. Lúc đó bà đang mang thai đứa con đầu lòng.
Năm 1950, bà sinh con trai và đặt tên là Dương Văn Hai. Mất chồng khi tuổi đời còn rất trẻ, một mình nuôi con nhỏ trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nhưng Phạm Thị Nữ không lựa chọn cuộc sống bình yên cho riêng mình. Nhờ sự đùm bọc của gia đình và bà con lối xóm, bà tiếp tục bám trụ với công tác giao liên, góp phần giữ vững mạch liên lạc của phong trào cách mạng. Đối với bà, tình yêu dành cho người chồng đã khuất được tiếp nối bằng quyết tâm thực hiện lý tưởng mà cả hai từng lựa chọn.
Năm 1957, trong một đợt khủng bố của chính quyền Sài Gòn, Phạm Thị Nữ bị bắt. Kể từ đó, bà phải trải qua gần hai mươi năm sống trong các nhà tù của chế độ cũ. Từ nhà lao Sa Đéc, Vĩnh Long đến Chí Hòa rồi bị đày ra Côn Đảo, bà liên tục bị thẩm vấn, tra tấn và giam cầm trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Mục đích của kẻ thù là buộc bà khai báo về tổ chức cách mạng và đồng đội. Nhưng suốt quãng thời gian dài ấy, người nữ đảng viên vẫn giữ trọn khí tiết, không khuất phục trước mọi cực hình.
Trong khi bà chịu cảnh tù đày nơi ngục tối, người con trai duy nhất lớn lên trong tình yêu thương của gia đình và niềm tự hào về cha mẹ. Noi gương cha đã hy sinh và mẹ đang bị giam cầm, Dương Văn Hai tình nguyện lên đường nhập ngũ. Đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, anh đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Tin dữ ấy không thể đến với người mẹ đang ở trong lao tù, nhưng chiến tranh đã lấy đi của bà cả người chồng lẫn đứa con duy nhất.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng. Sau gần hai mươi năm bị giam cầm, Phạm Thị Nữ được trở về quê hương trong niềm vui thống nhất của dân tộc. Thế nhưng, niềm hạnh phúc ấy cũng xen lẫn nỗi đau không thể bù đắp khi những người thân yêu nhất đã mãi mãi không còn. Dẫu vậy, bà không để mất mát làm chùn bước. Với tinh thần của một người đảng viên, bà tiếp tục nhận nhiệm vụ công tác tại Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Tháp, góp phần xây dựng chính quyền cách mạng trong những năm đầu sau ngày đất nước thống nhất.
Những năm tháng tù đày kéo dài đã để lại nhiều di chứng nghiêm trọng đối với sức khỏe của bà. Các vết thương do tra tấn và điều kiện giam giữ khắc nghiệt khiến bà ngày càng suy yếu. Năm 1980, bà được nghỉ hưu để điều trị bệnh và trở về sống cùng gia đình người em trai tại xã Tân Phú Đông. Dù sức khỏe giảm sút, bà vẫn luôn quan tâm đến công tác địa phương, giáo dục con cháu về truyền thống cách mạng và nhắc nhở thế hệ trẻ phải biết quý trọng nền hòa bình được đánh đổi bằng biết bao máu xương.
Sau nhiều năm chống chọi với bệnh tật, Phạm Thị Nữ qua đời năm 1992 sau năm tháng nằm liệt giường. Cuộc đời bà khép lại trong sự tiếc thương của đồng chí, đồng đội và nhân dân địa phương.
Để ghi nhận những cống hiến và hy sinh to lớn ấy, Đảng và Nhà nước đã trao tặng bà Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì cùng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Năm 1994, Chủ tịch nước truy tặng bà danh hiệu cao quý Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Đây là sự tri ân xứng đáng dành cho một người phụ nữ đã hiến dâng gần như toàn bộ cuộc đời mình cho độc lập và tự do của dân tộc.
Cuộc đời Phạm Thị Nữ là bản anh hùng ca về lòng trung kiên và đức hy sinh. Bà đã mất chồng, mất con, chịu gần hai mươi năm lao tù nhưng chưa bao giờ từ bỏ niềm tin vào thắng lợi của cách mạng. Hình ảnh người nữ chiến sĩ kiên cường ấy mãi là biểu tượng đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc.
Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình và phát triển, câu chuyện về Phạm Thị Nữ vẫn nhắc nhở mỗi chúng ta rằng tự do và độc lập không tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng tuổi xuân, nước mắt và cả sinh mạng của biết bao người như bà. Noi gương những người đi trước, thế hệ trẻ hôm nay cần không ngừng học tập, rèn luyện và cống hiến để xây dựng quê hương Đồng Tháp ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với những hy sinh cao cả mà các thế hệ cha anh đã dành cho Tổ quốc.
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Đồng Tháp, Nhân vật lịch sử Đồng Tháp.
https://dongthap.gov.vn/chi-tiet-bai-viet-nvls?id=6551566



