Mẹ Việt Nam Anh hùng

Phạm Trung Hải (2)

Một năm sau, cụ Hải nhập ngũ, biên chế vào Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108, Liên khu 5. Từ đó, cụ lăn lộn khắp chiến trường Liên khu 5, từ đồng bằng ven biển Nam Trung bộ đến núi rừng Tây nguyên, đặc biệt là vùng Gia Lai - Kon Tum và miền tây Quảng Ngãi. Năm 1950, cụ vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Sau Hiệp định Genève 1954, cụ Hải tập kết ra Bắc học tập, rồi năm 1960 trở lại chiến trường Kon Tum tiếp tục chiến đấu. Đến năm 1970, cụ giữ chức Huyện đội trưởng H.40 (vùng tây bắc tỉnh Kon Tum

Quảng Ngãi24/03/2026Phạm Thị Trà My (Đoàn xã Vệ Giang)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Một năm sau, cụ Hải nhập ngũ, biên chế vào Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108, Liên khu 5. Từ đó, cụ lăn lộn khắp chiến trường Liên khu 5, từ đồng bằng ven biển Nam Trung bộ đến núi rừng Tây nguyên, đặc biệt là vùng Gia Lai - Kon Tum và miền tây Quảng Ngãi. Năm 1950, cụ vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng.

Sau Hiệp định Genève 1954, cụ Hải tập kết ra Bắc học tập, rồi năm 1960 trở lại chiến trường Kon Tum tiếp tục chiến đấu. Đến năm 1970, cụ giữ chức Huyện đội trưởng H.40 (vùng tây bắc tỉnh Kon Tum cũ). Trong những năm tháng ác liệt ấy, đơn vị thường trú quân trong rừng già, sống nhờ sự chở che của đồng bào. Và cũng nơi núi rừng ấy, cụ gặp định mệnh đời mình.Chuyện tình trong khói lửaNhắc đến mối tình năm xưa, ánh mắt cụ Hải sáng lên, nụ cười rạng rỡ như ký ức vẫn còn vẹn nguyên. Người chủ động trong chuyện tình này không phải người lính dạn dày trận mạc mà là cô sơn nữ Y Nảy (năm nay 78 tuổi).Sinh ra trong gia đình đồng bào Gié Triêng ở H.40, từ nhỏ Y Nảy đã có thiện cảm với những người lính cụ Hồ. Năm 1962, cô tham gia thanh niên xung phong; đến năm 1967 thì nhập ngũ, công tác tại Quân khu 6. Ba năm sau, cô được điều về Huyện đội H.40, làm trung đội trưởng dưới quyền chỉ huy của cụ Hải. Khi ấy, cô mới 23 tuổi, kém ông 18 tuổi.Trong thời gian công tác, cô gái miền sơn cước thầm ngưỡng mộ người chỉ huy cương trực, quyết đoán. Tình cảm ngày một lớn dần, thôi thúc Y Nảy phải nói ra. Một buổi chiều vắng, cô mạnh dạn hỏi: "Anh Hải có muốn xây dựng hạnh phúc với em không?".Câu hỏi khiến người lính 41 tuổi sững sờ. Bao năm vào sinh ra tử, ông chưa từng nghĩ đến chuyện gia đình. Lúng túng, ông tìm cớ thoái thác: "Tôi đã có vợ, có con ở quê rồi". Nhưng Y Nảy không lùi bước. Cô nhìn thẳng vào mắt ông: "Anh chưa có vợ, chưa có con, đừng dối em. Em muốn làm vợ anh Hải".Ngạc nhiên hơn, ông nhận ra cô gái đã âm thầm tìm hiểu, thuộc lòng cả tiểu sử, gia cảnh của mình. Đồng đội, vốn quý mến cả hai, cũng nhiệt tình vun vén. Ban đầu, ông lo ngại khoảng cách tuổi tác, rồi sự khác biệt ngôn ngữ, phong tục. Hơn nữa, chiến tranh khốc liệt, lấy đâu ra bình yên để tính chuyện hôn nhân? Nhưng sự chân thành, kiên định của Y Nảy đã chạm đến trái tim người lính. Đám cưới giản dị diễn ra giữa rừng già, trong tiếng bom rền, pháo dội, có đồng đội làm chứng và chúc phúc. Năm 1970, chàng trai quê Bình Sơn và cô gái Gié Triêng chính thức nên duyên. Họ vừa chiến đấu, vừa học cách dung hòa văn hóa, tập quán của nhau. Chính trong khói lửa, tình yêu càng thêm sắt son.Trọn nghĩa vợ chồngNgày đất nước hòa bình, vợ chồng cụ Hải nhận nhiều huân, huy chương. Đó không chỉ là niềm tự hào, mà còn là sự ghi nhận đóng góp máu xương của họ trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.Trước khi đưa vợ về quê, cụ Hải nhiều đêm trăn trở làm sao thưa chuyện với cha mẹ, họ hàng về người bạn đời đặc biệt. Khi ấy, rào cản ngôn ngữ, phong tục giữa hai dân tộc còn lớn. Và đúng như dự đoán, gia đình phản đối. Nhưng rồi, bằng sự khéo léo, đảm đang và chân thành, Y Nảy dần chiếm được cảm tình của mọi người. Người con dâu núi rừng, giỏi việc nước, chu toàn việc nhà, đã khiến gia đình chồng mở lòng.Ở quê một thời gian, cụ Hải đưa vợ con trở lại Kon Tum tiếp tục công tác. Năm 1980, vợ chồng cụ về hưu, gom góp tiền lương mua rẫy cà phê ở xã Đăk Ui để nuôi con cái ăn học.Hơn nửa thế kỷ qua, tình cảm của hai người vẫn nguyên vẹn. Họ nuôi dạy 4 người con trưởng thành, học hành giỏi giang, nay đều có công việc ổn định, có người là cán bộ địa phương. Ở tuổi gần đất xa trời, họ sống cùng con cháu trong ngôi nhà nhỏ bình yên như mong ước thuở nào.Cụ Hải nắm tay vợ, nở nụ cười hiền: "Nếu không có cái duyên nơi rừng núi năm ấy, chắc tôi đã không có hạnh phúc như bây giờ". Còn bà Y Nảy khẳng định: "Nếu được quay lại thời gian khó ấy, tôi vẫn quyết tâm theo đuổi thủ trưởng Hải. Mình yêu thương ai thì phải nói ra. Hạnh phúc là do mình nắm giữ, nếu không chủ động thì sẽ tiếc nuối cả đời".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Phạm Trung Hải (2) | Câu chuyện thời hoa lửa