Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Phạm Trung Tương (Cò Tương) – Người trí thức yêu nước trọn đời gắn bó với cách mạng

Phạm Trung Tương (1908–1987), thường gọi Cò Tương, là một trí thức Trà Vinh nổi bật, từng du học tại Pháp và sở hữu vốn hiểu biết sâu rộng về văn hóa – xã hội. Sớm giác ngộ tinh thần yêu nước, ông tham gia phong trào đấu tranh của học sinh – sinh viên Sài Gòn năm 1926 và sau đó dấn thân vào con đường cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến, ông đảm nhiệm vai trò phát thanh viên tiếng Pháp của Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến, nổi tiếng với chuyên mục “Le propos d'un paysan” – những câu chuyện dí d

Vĩnh Long21/11/2025Sưu tầm và biên soạn Huỳnh Bá Lạc (Đoàn Thanh niên xã Hưng Mỹ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Phạm Trung Tương (Cò Tương) – Người trí thức yêu nước trọn đời gắn bó với cách mạng

Cò Tương tên thật là Phạm Trung Tương, sinh năm 1908 tại xã Hòa Thuận, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Ông sinh trong một gia đình khá giả. Cha ông là giáo viên, tên Phạm Văn Hộ, mẹ ông ở nhà chăm sóc ruộng vườn. Bà có một miếng vườn trầu lớn ở Tri Tân, hằng ngày hái trầu đem bán. Cả hai ông bà đều sống cần kiệm, dần dà tạo nên một gia sản đáng kể. Ngoài Phạm Trung Tương, ông bà còn một cô con gái út.

Thuở nhỏ, Phạm Trung Tương học trường Nam tiểu học tỉnh lỵ Trà Vinh. Ông thông minh, học giỏi, có năng khiếu về ngôn ngữ. Sau khi đậu bằng tiểu học, ông lên Sài Gòn học tiếp tại Lycée Chasseloup Laubat (nay là trường Trung học Lê Quí Đôn). Năm 1926, nhân tham dự đám tang nhà yêu nước Phan Chu Trinh và cuộc tuần hành đòi độc lập sau đó, nhiều đồng bào thanh niên học sinh bị bắt giữ. Một phong trào biểu tình, bãi khóa của sinh viên học sinh đòi trả tự do cho những người bị bắt nổ ra. Ông tham gia tích cực phong trào nầy và bị nhà trường đuổi học. Chúng còn cấm những học sinh bị đuổi học này xin vào học ở bất cứ trường nào khác tại thuộc địa Đông Dương.

Gia đình ông phải cố gắng cho ông sang Pháp học. Sau khi đậu tú tài, ông vào học Văn khoa, đại học Sorbonne, chuyên ngành Sử Địa. Đậu cử nhân xong, năm 1938, ông trở về nước. Ông không xin làm công chức, cũng không muốn dạy học tại trường công. Ông xin làm giáo sư dạy Pháp văn tại trường Trung học tư thục Bassac ở Cần Thơ. Học tập 12 năm tại Paris, ông nói tiếng Pháp trôi chảy và đúng giọng. Học sinh rất thích học ông vì ngoài kiến thức uyên bác, ông còn hay kể những câu chuyện dí dỏm liên quan đến bài học.

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, thành lập Chính phủ Trần Trọng Kim. Với chiêu bài "Đại Đông Á" và 'Á Châu của người Châu Á", người Nhật hấp dẫn được một số trí thức tỉnh Trà Vinh tham gia chính quyền thân Nhật. Phạm Trung Tương là một trong số những người đó. Ông được Đốc phủ Thìn, Tỉnh trưởng Trà Vinh lúc ấy bổ nhiệm làm cảnh sát trưởng. Vì vậy, người dân Trà Vinh đã thân mật gọi ông là Cò Tương (Cò: Commissaire de police).

Nhưng chính quyền thân Nhật đã nhanh chóng tan rã khi Nhật đầu hàng đồng minh, cuộc Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Phạm Trung Tương và một số trí thức khác, ý thức được cơ hội giành lại độc lập tự chủ cho dân tộc trong tay người Pháp, nên đã hăng hái đi theo cách mạng. Ông ra lệnh cho thuộc cấp gom, giữ đầy đủ súng ống giao lại cho chính quyền cách mạng.

Ngày 25/8/1945, ngay sau đêm quân dân Trà Vinh nổi dậy giành chính quyền, ông và vợ ông, bà Trương Thị Nguyệt đã gia nhập Ban tuyên truyền xung phong tỉnh. Cuối năm 1945, khi quân Pháp trở lại chiếm Trà Vinh, vợ chồng ông, theo tiếng gọi thiết tha của tổ quốc đã lên đường tham gia kháng chiến. Năm 1946, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ mời ông về công tác. Ông và vợ đã vui vẻ khăn gói lên Đồng Tháp Mười.

Ban đầu, ông được phân công làm việc trong Ban giám hiệu tại trường Trung học Thái Văn Lung. Năm 1947, Đài phát thanh tiếng nói Nam bộ kháng chiến vừa thành lập, cần có một chương trình phát thanh tiếng Pháp nên ông được phân công phụ trách chương trình này. Từ đó đến năm 1954, khi ông tập kết ra Bắc, đài Nam bộ kháng chiến không ngày nào thiếu chương trình phát thanh tiếng Pháp gồm phần tin tức chiến sự và mục câu chuyện hằng ngày mang tên lời đề nghị của một nông dân “Le propos d'un paysan”.

Mục “Le propos d'un paysan” rất thú vị. Đó là những mẫu chuyện kể nhằm đả kích thực dân Pháp, dí dỏm nhưng chua cay, nhẹ nhàng mà thấm thía. Ông yêu thích công việc và hăng say công tác vì đối với ông, đây là dịp để ông bộc lộ hết những nỗi bất bình đối với thực dân Pháp trước những cảnh bất công áp bức mà nhân dân ta và chính bản thân ông phải gánh chịu.

Vợ ông, bà Trương Thị Nguyệt, trong bài “Một người trí thức ở đài” trong tập kỷ yếu “Đây, đài phát thanh tiếng nói Nam bộ kháng chiến” đã mô tả ông như sau:

“Mỗi đêm, khi đài phát thanh tiếng nói Nam bộ lên sóng, một người mắt to, trán cao, đầu sói, mình mặc bộ đồ bà ba đen, cổ quàng khăn rằn, tay ôm cặp tài liệu, hăm hở đến phòng bả âm để đọc tin chiến thắng của quân dân ta khắp các miền đất nước và bài ăn miếng trả miếng với địch tiết mục “Le propos d'un paysan”. Cứ như vậy, mỗi khi đài phát sóng, dù mưa to gió lớn, dù vừa dứt cơn sốt rét, anh vẫn làm tròn nhiệm vụ phát thanh viên của mình”.trong Anh chị em ở đài thường gọi ông là “Anh Tương” hoặc “Anh Hai” theo thứ của vợ ông, người vợ mà cũng là người bạn đồng hành đã cùng ông đi suốt chặng đường đấu tranh gian khổ. Các đồng chí ngoài cơ quan gọi ông là “Anh Tư” vì lúc ở Đồng Tháp Mười, các anh trong Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ đã sắp thứ cho nhau: Phạm Văn Bạch: anh Hai, Ung Văn Khiêm: anh Ba, Phạm Trung Tương: anh Tư, Phạm Ngọc Thuần: anh Năm..

Làm xong công việc chuyên môn, ông hòa mình cùng tập thể anh chị em làm việc lao động chân tay để cải thiện đời sống. Ông mặc quần đùi, ở trần, xúc lúa đổ vào cối, xay đủ số lúa qui định. Khi anh em làm ruộng, ông lội xuống bùn chuyển mạ cấy, làm cỏ lúa, chuyển lúa chín về. Khi nhà ăn thiếu cấp dưỡng, như các anh chị em khác, ông nhận phần luân phiên trực nhật nấu cơm. Không quen việc bếp núc, ông loay hoay mãi không nhóm được bếp lửa. Chị chủ nhà thấy tội nghiệp, nhóm lửa làm bếp giúp ông. Để trả công, ông đề nghị chỉ cho gạo vào cối để ông giã hộ Về đời sống gian khổ của ông trong giai đoạn này, tác giả Trương Thị Nguyệt viết:

“Cơm kháng chiến thường ít có bữa ngon, có lúc thiếu gạo, bộ phận cấp dưỡng phải chèo ghe lên tận Tân Bằng chở khoai mì về độn cơm. Phải chi khoai mì mới đào luộc chín ăn thay cơm cũng ngon. Đằng này khoai mì chở mấy ngày đường mới về tới cơ quan. Khoai mì chạy chỉ, nấu lên mùi thật khó ngửi. Anh vẫn lặng lẽ ăn cơm độn khoai mì mùi chua lét với mắm cá hôi mùi rỉ sắt vì đựng trong thùng phuy” (Bài “Một người trí thức ở đài”).

Năm 1954, sau hiệp định Genève, ông muốn ở lại miền Nam. Lúc này cha ông đã mất, mẹ ông đã già yếu. Ông muốn được gần gũi và chăm sóc mẹ trong những ngày cuối đời. Nhưng khi được phân công tập kết ra Bắc, vợ chồng ông vẫn sẵn sàng tuân theo tổ chức.

Ban đầu, ông được phân công về Nhà xuất bản ngoại văn, sau chuyển sang Bộ ngoại giao, phụ trách việc phiên dịch.

Ông chẳng những giỏi tiếng Pháp mà tiếng Việt cũng giỏi, lại có kiến thức sâu rộng về các lĩnh vực chính trị, xã hội. Vì vậy, ông thường được chọn làm người thông dịch trong các buổi tiếp khách nước ngoài nói tiếng Pháp (nhất là những đoàn khách có giọng nói khó nghe hoặc cách nói khó dịch). Ông đã nhiều lần được làm người thông dịch cho Bác Hồ, Tổng bí thư Lê Duẫn, Bộ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm..

Có người hỏi ông “Anh được dự nhiều cuộc tiếp long trọng, chắc luôn được thưởng thức cao lương mỹ vị?”. Ông cười nói: “Trong bữa tiệc, tôi đâu dám ăn gì, phải lắng tại nghe để dịch cho đúng ý và hết ý, chỉ dám uống chúc ít rượu cầm chừng thôi!”. Ông nói thêm: Anh Ba (đ/c Phạm Hùng) rất chu đáo, anh luôn dặn nhà bếp: “Phải để dành cho anh Tư một mâm và một chai rượu ngon, anh ấy không có ăn gì hết trong bửa tiệc”.

Ông đã làm thông dịch cho hơn 50 đoàn chính phủ và Đảng các nước sử dụng tiếng Pháp. Ông làm việc không kể giờ giấc. Nhiều hôm, đi với đoàn đến 11-12 giờ khuya mới về đến nhà. Chưa kịp nằm ngả lưng thì có xe của Bộ ngoại giao đến gọi ông trở lên Bộ làm tuyên bố chung. Ông lại vội vã mặc quần áo ra xe đi.

Năm 1975, sau ngày đất nước thống nhất, ông và vợ trở về sống tại quê hương Trà Vinh. Mẹ ông đã mất từ lâu. Của cải, tài sản không còn. Nhưng ông vẫn sống vui vẻ. Những người biết ông thuở ấy vẫn nhớ mãi hình ảnh một ông già nhỏ nhắn, giản dị, áo sơ mi vải bỏ ngoài quần tây kaki, chân mang sandal mủ trong, hay nói, hay đùa, thích dự những cuộc hội họp.

Bà con, bạn bè đến thăm ông, nhiều người ngạc nhiên hỏi sức mạnh nào đã giúp ông, một người trí thức từng sống 12 năm ở Paris, có thể vượt qua mọi gian khổ thử thách để đi theo cách mạng đến ngày toàn thắng. Ông bảo rằng càng sống lâu trên đất Pháp, nhìn thấy cuộc sống của người dân

một nước độc lập, tự do, ông càng thấm thía nỗi nhục mất nước, càng thương dân mình quá nghèo, quá khổ, vì vậy càng căm thù bọn thực dân xâm lược. Chính lòng thương yêu đồng bào và lòng căm thù giặc sâu sắc đó đã thúc đẩy ông trọn đời đi theo tiếng gọi của Tổ quốc.

Ông qua đời tháng 4 năm 1987 tại thị xã Trà Vinh.

Do công lao động của ông đối với hai cuộc kháng chiến, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương cao quý.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn