Phạm Văn Bò (tên thường gọi: 6 Bò)
Họ và tên: Phạm Văn Bò (tên thường gọi: 6 Bò). Bí danh: Lê Ngọc Tấn (sử dụng giai đoạn 1969 - 1970). Năm sinh: 1955 tại xã Phước Thạnh, Châu Thành, Tiền Giang (nay cư ngụ tại phường Trung An, tỉnh Đồng Tháp). Gia đình: Là con của ông Phạm Văn Năm và bà Nguyễn Thị Chọn. Gia đình có truyền thống cách mạng, không ai làm việc cho địch. Anh trai là Phạm Văn Đực, trước 30/4/1975 từng là du kích xã Phước Thạnh (đã hy sinh), anh là Phạm Văn Thắng, trước 30/4/1975 “trốn quân dịch” tại chùa Đạo Dừa (chết)
Trong căn nhà nhỏ tại địa bàn phường Trung An, khi lật mở những trang hồ sơ đã nhuốm màu thời gian, chúng tôi được gặp gỡ một nhân chứng sống của những năm tháng kháng chiến oanh liệt chống Mỹ cứu nước: chú Phạm Văn Bò.
Tiểu sử tóm tắt của nhân vật:
Họ và tên: Phạm Văn Bò (tên thường gọi: 6 Bò).
Bí danh: Lê Ngọc Tấn (sử dụng giai đoạn 1969 - 1970).
Năm sinh: 1955 tại xã Phước Thạnh, Châu Thành, Tiền Giang (nay cư ngụ tại phường Trung An, tỉnh Đồng Tháp).
Gia đình: Là con của ông Phạm Văn Năm và bà Nguyễn Thị Chọn. Gia đình có truyền thống cách mạng, không ai làm việc cho địch. Anh trai là Phạm Văn Đực, trước 30/4/1975 từng là du kích xã Phước Thạnh (đã hy sinh), anh là Phạm Văn Thắng, trước 30/4/1975 “trốn quân dịch” tại chùa Đạo Dừa (chết). Hiện tại có vợ và 05 người con.
Khen thưởng: Được tặng thưởng 01 Huy chương Kháng chiến hạng II cùng nhiều bằng khen, giấy khen khác.
Những câu chuyện "Hoa lửa" không quên. Cuộc đời cách mạng của chú Sáu Bò bắt đầu từ rất sớm, khi ý chí tự lập và lòng yêu nước đã rực cháy trong lòng một thiếu niên.
Chàng giao liên 14 tuổi và mật hiệu trên lưng trâu. Vào đầu năm 1969, khi mới 14 tuổi, chú được cán bộ địa phương móc nối làm giao liên, đi thư và canh gác lính đi ruồng. Với lợi thế hàng ngày đi chăn trâu của nhà, chú đã tạo được bình phong tuyệt vời để che mắt giặc.
Chú nhớ lại: "Khi mang thư đi, chú ngồi ngụy trang trên lưng trâu. Nếu thấy lính đi càng thì gõ vào sừng trâu để báo hiệu cho đơn vị; lính nhiều gõ nhiều, lính ít gõ ít. Khi lính đến gần thì dùng hai chân đập mạnh vào bụng trâu để cảnh báo". Nhờ những ám hiệu mưu trí đó, lực lượng của ta luôn chủ động đối phó thành công.
Du kích mật và những sáng kiến "xuất quỷ nhập thần". Năm 1970, chú chuyển sang đội du kích mật xã Trung An – Trung Lương. Tại đây, chú trực tiếp đánh mìn, chọi lựu đạn và rải truyền đơn. Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất là lần chú rải truyền đơn chống Mỹ tại khu vực Trường học Bác ái. Chú đã sáng tạo nhét truyền đơn vào đuôi các đoàn xe hàng, xe dân sự đậu nghỉ đêm. Đến sáng hôm sau khi xe chạy, truyền đơn bay tung tóe khắp nơi, tạo dư luận lớn mà kẻ địch không sao tìm ra nguồn gốc.
Những chiến công quả cảm. Năm 1971, chú đánh mìn vào một toán lính đồn gây thương vong, đồng thời ném lựu đạn tiêu diệt và làm bị thương hơn nửa tiểu đội biệt kích ngụy. Đến năm 1974, khi đã chuyển sang đội Biệt động thị trấn Trung Lương, chú trực tiếp bắn tỉa tiêu diệt 1 tài xế xe nhà binh GMC của địch trên đường chúng đổ quân về. Ngày 09/10/1974, chú vinh dự được kết nạp vào Đảng ngay giữa lòng cuộc kháng chiến.
Giữ vững phẩm chất giữa đời thường. Sau ngày 30/4/1975, đất nước hòa bình nhưng hoàn cảnh gia đình neo đơn, cha mẹ mất sớm, chú gác lại công tác để về tập trung sản xuất kinh tế nông nghiệp.
Không chỉ là người chiến sĩ dũng cảm, trong thời bình, chú tiếp tục là tấm gương sáng khi đạt danh hiệu "Nông dân sản xuất giỏi cấp tỉnh và thành phố" với mô hình trồng cây giống và chăn nuôi như trồng táo giống, nuôi dê, bò, vịt, chiết cây giống.
Câu chuyện của chú Phạm Văn Bò là minh chứng sống động cho tinh thần "Câu chuyện thời hoa lửa". Qua lăng kính của người trẻ hôm nay, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn giá trị của độc lập, tự do và tự hứa sẽ tiếp nối truyền thống, trách nhiệm của thế hệ cha anh để xây dựng phường Trung An ngày càng giàu đẹp.


