Bài viết

PHẠM VĂN VƯỢNG – NGƯỜI CHỈ HUY TRƯỞNG THÀNH TỪ CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN

Phạm Văn Vượng sinh năm 1943, quê xã Đồng Lý, huyện Lý Nhân. Ông nhập ngũ năm 1961, xuất ngũ năm 1963 và tái ngũ năm 1967. Từ một người chiến sĩ, ông trưởng thành qua chiến đấu trở thành Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên. Trong những năm 1967–1973, ông trực tiếp chiến đấu và chỉ huy nhiều trận quan trọng tại Tây Nguyên, nổi bật ở Pu Prăng, Ngọc Tô Ba, Ngọc Rinh Rua và Tân Cảnh. Ngày 23-9-1973, Phạm Văn Vượng được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Ninh Bình22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

TỪ NGƯỜI CHIẾN SĨ ĐẾN CÁN BỘ TRUNG ĐOÀN

Phạm Văn Vượng sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Đồng Lý, huyện Lý Nhân.

Tháng 2-1961, ông nhập ngũ. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, tháng 4-1963, ông phục viên trở về địa phương.

Đến tháng 2-1967, Phạm Văn Vượng tái ngũ và bước vào một giai đoạn chiến đấu kéo dài nhiều năm tại:

CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN

Từ năm 1967 đến 1973, ông trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đoàn.

Theo tài liệu, ở bất kỳ cương vị nào, Phạm Văn Vượng cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ông trực tiếp tham gia và chỉ huy nhiều trận chiến đấu; các đơn vị do ông phụ trách đã:

DIỆT HÀNG NGHÌN ĐỊCH

Khi được tuyên dương Anh hùng, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn bộ binh 66, Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


PU PRĂNG 1969 – 28 NGƯỜI ĐƯƠNG ĐẦU MỘT TIỂU ĐOÀN

Thu Đông năm 1969, tại điểm cao 883 ở Pu Prăng, Phạm Văn Vượng chỉ huy một đại đội.

Lực lượng của ông lúc đó chỉ còn:

28 CHIẾN SĨ

Trong khi lực lượng đối phương lên tới:

1 TIỂU ĐOÀN

Cuộc chiến đấu kéo dài 2 ngày liên tục.

Đặc biệt, đơn vị bị mất liên lạc với cấp trên.

Trong tình thế khó khăn ấy, Phạm Văn Vượng vẫn bình tĩnh giữ vững quyền chỉ huy, tổ chức lực lượng kiên quyết chiến đấu.

Kết quả:

Diệt gọn 2 trung đội
Thu 13 súng
Thu 2 máy vô tuyến điện

Lực lượng còn lại phải rút chạy.


NGỌC TÔ BA – TRUY KÍCH ĐỐI PHƯƠNG RÚT CHẠY

Ngày 27-2-1971, Phạm Văn Vượng chỉ huy chiến đấu tại điểm cao 935 – Ngọc Tô Ba.

Ông vận dụng cách chỉ huy được tài liệu mô tả là:

MƯU TRÍ – SÁNG TẠO – PHÁT HUY HỎA LỰC

Đơn vị tổ chức vây ép khiến đối phương phải rút khỏi vị trí.

Phạm Văn Vượng lập tức nắm thời cơ:

CHỈ HUY ĐƠN VỊ TRUY KÍCH

Đơn vị của ông phối hợp với lực lượng bạn, góp phần:

DIỆT GỌN 1 TIỂU ĐOÀN


NGỌC RINH RUA – ĐÁNH VÀO CHỖ SƠ HỞ

Ngày 31-3-1971, tại điểm cao 1001 – Ngọc Rinh Rua, đơn vị gặp một tình huống khó khăn.

Một tiểu đoàn đối phương dựa vào hệ thống công sự vững chắc, tổ chức hỏa lực chống trả và nhiều lần phản kích.

Các mũi tiến công của ta chưa thể phát triển vào bên trong.

Phạm Văn Vượng nghiên cứu cách bố trí và thủ đoạn phòng ngự, từ đó xác định:

ĐÁNH VÀO CHỖ SƠ HỞ

Ông tổ chức lực lượng chia cắt đối phương thành từng bộ phận, sau đó lần lượt tiêu diệt.

Kết quả:

ĐƠN VỊ DIỆT 1 TIỂU ĐOÀN

Đây là một trong những trận thể hiện rõ năng lực tổ chức và xử trí chiến thuật của Phạm Văn Vượng.


TÂN CẢNH 1972

Một trong những trận đánh nổi bật nhất trong quá trình chiến đấu của Phạm Văn Vượng diễn ra tại Tân Cảnh năm 1972.

Theo tài liệu, tại đây đối phương bố trí:

1 trung đoàn, cùng sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 22, được bảo vệ bởi nhiều hầm ngầm, công sự, hàng rào và bãi mìn.

Đây là một hệ thống phòng thủ kiên cố.

Trong quá trình chiến đấu, Phạm Văn Vượng trực tiếp quan sát và:

CHỈ TỪNG MỤC TIÊU CHO ĐƠN VỊ TIẾN CÔNG

Ông bị thương.

Nhưng:

KHÔNG RỜI TRẬN ĐỊA

Phạm Văn Vượng tiếp tục chỉ huy cho đến khi trận đánh kết thúc.

Đơn vị do ông chỉ huy đã góp phần cùng trung đoàn tiêu diệt lực lượng đối phương tại mục tiêu, trong đó có sở chỉ huy sư đoàn và một trung đoàn.


DẤU ẤN CỦA NGƯỜI CHỈ HUY

Qua các trận đánh được ghi lại, phẩm chất nổi bật của Phạm Văn Vượng không chỉ nằm ở lòng dũng cảm mà còn ở năng lực chỉ huy trong những tình huống phức tạp:

Pu Prăng: mất liên lạc với cấp trên → vẫn bình tĩnh tổ chức chiến đấu.

Ngọc Tô Ba: đối phương rút → nhanh chóng tổ chức truy kích.

Ngọc Rinh Rua: công sự kiên cố → tìm sơ hở, chia cắt lực lượng để tiêu diệt.

Tân Cảnh: bị thương → không rời trận địa, tiếp tục chỉ huy.

Từ một người lính, ông từng bước trưởng thành thành:

TRUNG ĐOÀN PHÓ TRUNG ĐOÀN 66 – SƯ ĐOÀN 10


ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

Với những thành tích trong chiến đấu, Phạm Văn Vượng được tặng:

1 HUÂN CHƯƠNG CHIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG HẠNG NHÌ

1 HUÂN CHƯƠNG CHIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG HẠNG BA

Ngày 23 tháng 9 năm 1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Phạm Văn Vượng danh hiệu:

ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN GIẢI PHÓNG

Từ một chiến sĩ tái ngũ năm 1967, Phạm Văn Vượng trưởng thành ngay trong khói lửa Tây Nguyên để trở thành cán bộ trung đoàn. Những trận Pu Prăng, Ngọc Tô Ba, Ngọc Rinh Rua và Tân Cảnh cho thấy hình ảnh một người chỉ huy bình tĩnh trước tình huống khó khăn, quyết đoán trong chiến đấu và kiên cường ngay cả khi bị thương. Đó cũng là những dấu mốc tiêu biểu trong hành trình chiến đấu của Anh hùng Phạm Văn Vượng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn