Anh hùng Lực lượng vũ trang

Phạm Xuân Ẩn – Nhà tình báo chiến lược sống hai cuộc đời

Đồng Nai30/10/2026Đoàn phường Thủ Đức (Phường Thủ Đức)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những cuộc đời phong phú và bí ẩn đến mức sách báo viết về họ chỉ như những ánh đèn flash, đủ lóe sáng vài khoảnh khắc. Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn là một con người như thế: một phóng viên của Reuters rồi tuần báo Time, đồng thời là điệp viên chiến lược của cách mạng Việt Nam. Cái tên Ẩn, theo nhận định của giáo sư Larry Berman, trong tiếng Việt có nghĩa là bí ẩn hay bí mật, và quả thật tên ông đúng như cuộc đời ông. Ông là một trong rất ít người đã nhìn cuộc chiến từ cả hai phía, và hành trình của ông để lại bài học hiếm thấy về một nhân cách lớn vượt qua những thử thách giữa nghĩa vụ và tình người.

Phạm Xuân Ẩn sinh năm 1927 tại Biên Hòa, trong gia đình một viên chức cao cấp ngành công chính của chính quyền thuộc địa. Quê gốc của gia đình ở Hải Dương, nhưng ông nội, một nghệ nhân kim hoàn, được gọi vào kinh đô Huế chế tác đồ vàng bạc cho triều đình. Khi học lớp ba, ông bị gửi ra Huế sống với họ hàng và kèm cặp việc học; ông gọi đó là bị đi đày vì không chịu học hành tử tế. Ở Huế, cậu bé ham chơi, thích lang thang bắt cá, rình bắt cả cọp con, và theo lời ông, thiên nhiên chính là người thầy dạy những bài học nằm lòng nhanh nhất. Vốn sống đa dạng ấy về sau rất cần cho cả hai nghề báo và tình báo. Từ gia đình nhà Nho, ông thấm bài học “tiên học lễ, hậu học văn”, rồi lần lượt tiếp nhận văn hóa Pháp và văn hóa Mỹ, để cuối cùng dung hòa cả ba nền văn hóa trong một con người. Chính ông cũng nói rằng những nền tảng như tín nghĩa, trung thực vẫn là cái gốc ông giữ suốt đời.

Năm 1948 ông đỗ tú tài ở Mỹ Tho, năm sau lên Sài Gòn đúng lúc phong trào bãi khóa và phong trào Trần Văn Ơn nổ ra. Tại đây ông tham gia cách mạng, và bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thấy cậu thanh niên lanh lợi nên giao cho những công việc tìm hiểu tình hình quân sự của Pháp. Năm 1951, ngành tình báo chiến lược được thành lập và Phạm Xuân Ẩn trở thành một trong những hạt giống đầu tiên được chọn gieo vào đất của đối phương. Cấp trên nhận định rằng cuộc đối đầu với người Mỹ đã khởi sự trong khi lưới tình báo mới chỉ chuẩn bị đối phó người Pháp, nên gửi ông sang Mỹ học là cách tốt nhất để hiểu kẻ thù từ bên trong, đồng thời tạo vỏ bọc tốt nhất. Người ta chỉ cho ông con đường làm báo, một nghề tự do, và ông vốn cũng yêu thích báo chí. Việc đi học không hề dễ dàng: học bổng bị hội đồng du học Sài Gòn chặn lại, ông phải đi tự túc, tổ chức phải lo tiền máy bay và quần áo, đến gần cuối năm 1957 mới đi được.

Ba mươi tuổi, ông đến nước Mỹ và theo học báo chí tại Orange Coast College ở California, viết cho báo sinh viên và thực tập tại nhật báo Sacramento Bee. Nhiệm vụ của ông không phải lấy bằng cấp mà là hiểu văn hóa Mỹ, bộ máy chính trị và guồng máy kinh tế của họ. Ông học giỏi, chăm chỉ, không ham chơi, đến mức cô giáo dạy văn, từng làm tình báo trong Thế chiến thứ hai, còn nghi ngờ ông có mục đích nào đó lớn hơn việc học. Ông kể rằng hai năm ở Mỹ là khoảng thời gian duy nhất trong đời ông không phải lo lắng băn khoăn, và ông nói mình có hai tình yêu, yêu đất nước mình và yêu nước Mỹ, mong khi chiến tranh qua đi hai bên xích lại gần nhau.

Trong lúc ông còn ở Mỹ, ở quê nhà các mạng lưới tình báo lần lượt bị vỡ, hàng loạt người lãnh đạo bị bắt, đảng viên bị khủng bố dưới chế độ Ngô Đình Diệm với sắc luật 47 và luật 10/59. Thư từ gia đình cho ông biết các anh đã “đi xa”, đừng hỏi thăm nữa. Tháng 10 năm 1959, giữa lúc phân vân nên ở lại hay về nước, ông nhận được tấm bưu thiếp chụp đảo tù Alcatraz của cô bạn, và lo rằng đó là điềm báo cảnh tù ngục chờ đợi mình. Ông có thể ở lại Mỹ, hoặc sang Pháp, thậm chí đến Cuba, nhưng ông nghĩ mình chỉ là một cá nhân trong một tập thể lớn, và nếu không có chỉ đạo của tổ chức thì cái riêng chẳng còn nghĩa lý gì. Ông quyết định về, như đánh một canh bạc với số phận, và dặn bạn bè ra đón đông để nếu bị bắt thì có người báo tin cho tổ chức biết. Thắng hay thua trong canh bạc ấy tùy thuộc vào sự chịu đựng của những đồng chí đang bị tra tấn, có người ông còn chưa biết mặt. Rốt cuộc, không ai khai báo gì về ông.

Về nước, ông chọn cách đánh bài ngửa: xin vào làm ở những nơi khó nhất, như Phủ Tổng thống và cơ quan mật vụ, để họ điều tra thật kỹ, vì nếu qua được thì vỏ bọc càng vững. Cơ quan an ninh quân đội điều tra lý lịch và chấp nhận cho ông vào làm, rồi biệt phái sang Việt Tấn Xã, nơi ông phụ trách các phóng viên làm việc ở nước ngoài. Những người này phần nhiều là gián điệp và xem nghề báo là chướng ngại cho công việc chính, còn ông lại tìm thấy ở đó vỏ bọc tuyệt hảo để tiếp cận những nguồn tin quan trọng. Khi người đứng đầu cơ quan mật vụ mất quyền lực sau một cuộc đảo chính hụt, ông chuyển sang làm cho Reuters rồi văn phòng tuần báo Time tại Sài Gòn. Ông giao du rộng rãi với sĩ quan cao cấp, nhân viên tình báo, an ninh quân đội, thậm chí được xem là người của CIA, nhờ đó nắm được nhiều nguồn tin then chốt.

Việc tìm lại liên lạc với tổ chức mất một thời gian, vì tình hình lúc ấy rất khó khăn. Khi các đồng chí tìm được ông, họ nhận ra đây là một người đã được Đảng và tình báo đưa sang Mỹ học, có những mối quan hệ rất cao, từ các chỉ huy Mỹ đến những người thân cận Ngô Đình Diệm, và đã nắm rất nhiều tin tức bí mật. Ông mang bí số X6 trong mạng lưới tình báo chiến lược H63, về sau bí danh là Hai Trung. Từ tài liệu về chiến tranh đặc biệt, các cuốn sách về kỹ thuật và chiến thuật chống chiến tranh nổi dậy của Mỹ cho đến những kế hoạch như Staley - Taylor, ông cung cấp để phía cách mạng hiểu đối phương sẽ đánh như thế nào. Từ đó, ta đề ra cách đối phó mà người ta tổng kết bằng bốn chữ “cắm cọc phá lưới, bám đất bẻ lao”. Trận Ấp Bắc năm 1963 là kết quả: một tiểu đoàn du kích đánh bại lực lượng lớn hơn gấp nhiều lần, phá thế chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Ông là một trong hai người được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất cho trận này. Việc chuyển tài liệu cũng đầy hiểm nguy: trong 47 giao liên của lưới H63 chuyển tài liệu của ông ra khỏi Sài Gòn, có 27 người bị bắt và bị thủ tiêu. Những tài liệu ông và đồng đội gửi về từng khiến Đại tướng Võ Nguyên Giáp thốt lên rằng ta đang ở trong phòng chiến tranh của Nhà Trắng. Chính một tài liệu mật của quân đội Sài Gòn cũng thừa nhận rằng, ngoài tiểu thuyết tình báo, chưa từng có tổ điệp báo nào thành công đến thế.

Trong nghề báo, ông được xem là thượng hạng. Ông chỉ làm cho báo nước ngoài, chịu khó làm việc, sẵn lòng giúp đồng nghiệp, và đã làm báo cho Reuters, New York Herald Tribune, Christian Science Monitor, rồi 11 năm cho Time. Đồng nghiệp của ông, kể cả khi đã biết sự thật, đều nhận xét rằng ông luôn làm báo với tinh thần nghiệp vụ và nguyên tắc đạo lý của nghề: trung thực, bảo vệ danh tính nguồn tin, không lèo lái thông tin. Ông thường lái chiếc Renault 4 ngựa cũ kèm chú chó béc-giê đi lại khắp Sài Gòn, đỗ trước tiệm Givral, và chính chiếc xe ấy từng được ông dùng đưa cán bộ tình báo đi chọn các mục tiêu trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Nó nay được lưu giữ tại Bảo tàng Quân đội. Ông tự nói hai điều đều thật: mười năm làm phóng viên cho Time, và gia nhập cách mạng từ năm 1945.

Điều đặc biệt là gần như không ai ghét ông, kể cả đối phương. Những người Mỹ từng quen biết ông đều sửng sốt khi biết sự thật, nhưng sau đó vẫn kính nể và trân trọng tình bạn ấy. Đại sứ Mỹ từng đến tận nhà chào từ biệt khi ông không thể dự tiệc chia tay vì lý do sức khỏe, bà tổng lãnh sự Mỹ đến chúc Tết ông, còn cựu giám đốc CIA William Colby nhiều lần muốn gặp mà không được. Giáo sư Larry Berman đã 18 lần đến Việt Nam từ tháng 7 năm 2001, phỏng vấn ông hàng trăm giờ để viết cuốn “Điệp viên hoàn hảo”, còn ông Ẩn lại muốn đặt tên là “Điệp viên may mắn”. Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải mất mười năm cho cuốn sách đầu tiên của Việt Nam về ông, “Phạm Xuân Ẩn, tên người như cuộc đời”, đoạt giải A cuộc thi văn học vì an ninh Tổ quốc năm 2005. Nhiều người nói cuộc đời ông gồm ba cuộc đời cùng tồn tại: một dành cho Việt Nam, một dành cho nước Mỹ và một dành cho báo chí.

Ông không viết hồi ký, dù có người từng nghĩ giúp cả tên sách. Ông nói mình chỉ làm công việc của bất cứ người yêu nước nào, và muốn chôn sâu những bí mật nghề nghiệp, những uẩn khúc đau lòng mà trong thời chiến có thể cảm thông nhưng trong thời bình có thể không được tha thứ. Ông cũng dặn người viết sách đừng ghi những điều có thể làm đau lòng con cháu của những người khác. Những năm cuối đời, ông sống trong khu vườn yên tĩnh, thích làm bạn với cây cảnh, chó, chim và cá, trông như bất cứ một ông già Á Đông hiền lành nào, khác xa hình dung về một điệp viên chọc trời khuấy nước. Nhà báo Morley Safer của CBS từng gọi ông là một bí ẩn lớn, vì không hiểu sao ông giấu được tung tích lâu đến thế khi các mạng lưới khác lần lượt vỡ. Cuối năm 2003, ông được mời thăm khu trục hạm Mỹ USS Vandegrift khi tàu trở lại Sài Gòn lần đầu sau chiến tranh; ông mãn nguyện nói rằng giờ có thể nhắm mắt vì chiến hạm được coi như một phần đất thuộc chủ quyền Hoa Kỳ, nghĩa là sau gần nửa thế kỷ ông đã đặt chân trở lại đất Mỹ.

Cuộc đời Phạm Xuân Ẩn là bài học về sự kết hợp giữa trí tuệ, bản lĩnh và lòng trung thành với lý tưởng, nhưng cũng là bài học về nhân cách. Ông từng nói rằng điều giữ lòng ông lại, ngay cả khi tưởng mọi thứ đã sụp đổ, là tình bạn và tình cảm dành cho những người thân, rằng ông sợ sau này không dám nhìn thẳng mặt con mình. Ở ông, người ta thấy rõ rằng làm tình báo xuất sắc không đồng nghĩa với việc đánh mất sự trung thực nghề nghiệp hay tình người. Đối với thế hệ trẻ hôm nay, tấm gương ấy nhắc rằng tài năng chỉ thật sự có giá trị khi đi cùng đạo đức và tinh thần trách nhiệm; rằng một người có thể trung thành với lý tưởng mà vẫn giữ được sự tử tế với tất cả mọi người; và rằng hiểu người khác, hiểu văn hóa của họ, là chìa khóa của cả chiến thắng lẫn hòa giải.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn