Phạm Xuân Khánh
Câu chuyện của cựu chiến binh về thời kháng chiến chống giặc ngoại xâm đầy những gian nan thử thách, khó khăn để giúp đất nước phát triển thịnh vượng và góp phần truyền tải những thông điệp ý nghĩa tới giới trẻ hiện tại.
Khi lịch sử gặp tương lai và cuộc đời của những anh hùng lặng lẽ “ thời hoa đỏ” Nhân vật lịch sử : ông Phạm Xuân Khánh và vợ là bà Nguyễn Thị Kính Địa chỉ: Thôn Bắc Thọ-Xã Ngư Lộc- Huyện Hậu Lộc-Tỉnh Thanh HoáChị đoàn: 10a4Họ và tên người viết: Phạm Linh Chi Giữa khói lửa chiến tranh,” thời hoa lửa” bừng sáng như một biểu tượng thiêng liêng của ý chí và lòng yêu nước, ngọn lửa rực cháy không chỉ gửi lên bom đạn và mất mát mà còn khắc hoạ tính thần bất khuất, kiên cường của những người Việt Nam Anh Hùng trong gian khổ và hi sinh. Vẻ đẹp của lòng dũng cảm vẫn nở hoa thắp lên niềm tin và khát vọng hoà bình, ngọn lửa luôn rực cháy với khát vọng về một đất nước độc lập-tự do.Khi bước vào ngôi nhà nhỏ đơn sơ của hai người lính xưa, một hình ảnh mộc mạc, giản dị mà chắc ẩn trong ấy là bao niềm hạnh phúc xen kẽ là những nổi đau âm ĩ lặng lẽ. Hình ảnh hiền từ của người phụ nữ nhẹ nhàng ân cần chăm sóc cho người lính của mình hiện lên trong một đất nước hoà bình.Chân dung tiêu biểu của người hùng xuyên thời gian- vợ chồng ông Phạm Xuân Khánh và bà Nguyễn Thị Kính Ông Phạm Xuân Khánh sinh năm 1952, sinh sống tại thôn Bắc Thọ, xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh hoá ( nay thuộc thôn Bắc Thọ xã Vạn Lộc, tỉnh Thanh Hoá) với tinh thần vì nước vì dân ông chia sẻ “ sinh ra trong thời đất nước bị xâm chiếm bởi quân giặc ông đem một lòng quân thù sâu sắc quyết tâm dù có đổ máu, hi sinh ông vẫn dâng hiến một đời, một lòng với Tổ Quốc” khi đủ tuổi trưởng thành đem theo khát vọng của tuổi trẻ ông gia nhập vào “tiền phương phương trùng phòng quân thanh quân Quãng Bình với số đoàn 559” saumột khoảng thời gian làm việc và gắn bó với những đồng đội thân yêu cùng trải qua tháng ngày vất vả ông chuyển công tác đến phòng tham mưu chiến lược quân sự - quốc phòng, nơi đây ông gặp bà Nguyễn Thị Kính sinh năm 1952,sinh sống tại thôn Bắc Thọ, xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh hoá ( nay thuộc thôn Bắc Thọ xã Vạn Lộc, tỉnh Thanh Hoá) hai ông bà cùng một quân chủng “phòng quân không quân” với chiến dịch “Điện Biên phủ trên không 18/12/1972-29/12/1972” còn được gọi với cái tên chiến dịch B52 hai ông bà một người là lính khí tượng và một người là lính báo vụ cùng nhau thực hiện ước mơ hoà bình. Đến năm 1982 ông Khánh ra bắc tham gia trận chiến chống quân xâm lược Trung Quốc sau khi kết thúc ông trở về quê nhà và làm cán bộ viên. Về phía bà, bà Kính vẫn ở lại đoàn trợ giúp nhân dân trong việc gửi thông tin tình báo.Giọng nói nhẹ nhàng của năm tháng chiến trường ấy vẫn còn vấn vương đến hoà bình, nỗi đau của người chiến sĩ vẫn mài mòn thân xác khi hoà bình đến, nhưng trong lòng những người chiến binh ấy mỗi mệnh lệnh, tiếng gọi của đất nước vẫn như là sứ mệnh của mình. Cảm xúc hồi hộp vẫn dâng trào trong lòng những người lính xưa khi được hỏi về cảm xúc của mình lúc nhận được lệnh của Tổ Quốc ông bà chia sẽ” lúc nhận được thông báo là hào hứng lắm, hăng hái lên đường không màng sống chết, đi là đi miễn là giải phóng được Việt Nam” 3/1/1971 đem theo sự quyết tâm của mình ông bắt đầu cuộc sống giữa bom đạn. Động lực duy nhất của thời ấy là nghĩ đến hoà bình của đất nước trong tương lai không màng khó khăn hay thử thách sẵn sàng một lòng dâng hiến cho đất nước.Cuộc sống nơi chiến trường không chỉ thiếu mà còn vất, có những niềm vui mang tên kèm theo ấy là nỗi buồn không tên. Giọng nói của người báo tin năm ấy cất lên vừa chứa sự hiền hậu, xen lẫn tiếng nghẹn ngào khi kể lại một chặn đường khó khăn thời khói lửa “ trong cuộc đánh chiến dịch 12 ngày đêm đấy chỉ được nghỉ mỗi một ngày 3 tiếng thôi còn là phải thật tỉnh táo để trực” “ sáng dậy là phải dậy thật sớm để hứng nước rửa mặt, chảy mỗi lúc mỗi giọt mãi mới được một ca”. Ông chia sẻ “ lúc đó đói lắm phải đi mò ốc dưới đầm, dưới mương đĩa bò lên, mà nó nhiều lắm, bắt mãi được mấy rổ rồi đổi với người dân lấy lương, tuy khó khăn là thế vất vả là thế nhưng có đồng đội ở bên lại cũng vui” “ mấy cái hố bom ấy nước đọng vào mỗi lần ra tắm là tìm hố bom đến đó tắm” ta thấy đó tuổi trẻ giữa khói lửa mà lòng vẫn một ý trí một quyết tâm. Thiếu thốn trăm bề là thế nhưng tuyệt đối tình đồng đội luôn dạt dào phải nói tình đồng của năm tháng ấy sẽ khắc ghi mãi trong tâm của những người lính không vì thế mà nhiều bài thơ về tình đồng đội đến nay vẫn luôn vĩnh trường theo thời gian. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay! ( Đồng chí- Chính Hữu) Chính đó cũng là những kỉ niệm mà người lính nào cũng không muốn quên và không thể quên. Cuộc chiến xa nhà tình đồng chí còn hơn trên hết mọi điều, chia sẻ từ những điều thầm kín của tuổi trẻ, đến cả niềm vui cộng nỗi buồn, bà còn kể em nghe “ thời đó không điện thoại, không thông tin liên lạc, trao đổi với nhau bằng thư mà thư đưa đến lâu lắm cứ ai có thư là cả đám chụm lại đọc với nhau vui lắm cháu ơi, bây giờ ông bà vẫn còn liên hệ với những đồng đội xưa mà” dù vui đến thế nhưng cuộc sống tà sẽ không dự đoán được điều gì sẽ đến có những con người vẫn ở lại bên ta nhưng lại có những người “Lặng thầm dâng hiến cả tuổi thanh xuân.” hi sinh trong màu cờ sắc áo để lại người thân cùng đồng đội kể đến đây ông bà đều rưng rưng, lòng nghẹn ngào. Em đã không kìm được những giọt nước mắt, mà từ lâu nó đã rơi trên má, tự hào và biết ơn những người hùng thầm lặng đã “Đem máu xương đổi lấy hòa bình” không thể và không dám tưởng tượng những người lính đã phải như thế nào vượt qua cơn đau mà đứng dậy để bước tiếp,” sự chịu đựng phi thường” vì vậy họ xứng đáng được những điều tốt đẹp hơn nữa.Những bằng khen, huy chương được đất nước vinh danh được ông bà giữ gìn cẩn thận Khi ông cho em xem ông đã nói một câu mà trong lòng em lúc đó gợn lên những cơn sóng vô hình dâng trào “ bằng khen của ông bà đó ở giữa là ảnh Bác” về những tấm huy chương do thời gian đã lâu lên ông đã cất đi thấy sức khoẻ ông không được tốt lên em cũng chưa có được sự may mắn để chính mắt mình thấy được.Sau những câu truyện ông bà kể em mới phần nào hiểu được cuộc sống thời đó giờ so với hiện tại là thay đổi rất nhiều và hoà bình hôm nay là sự đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, ý chí kiên cường của người hùng xưa. Hoài niệm về năm tháng ấy ông bà như trở về thời máu lửa truyền cảm hứng rất nhiều cho thế hệ trẻ ngày nay.Hình ảnh hai thế hệ – quá khứ hi sinh và hiện tại tiếp bướcMột thế hệ ngã xuống để giữ nước, một thế hệ đứng lên để xây dựng đất nước, hình ảnh có lẽ là giá trị nhất trong vô vàn bức ảnh quý, những lời ông dặn dò em vẫn còn nhớ “ hãy cố mà học con, đất nước còn dựa vào chúng con” giọng ông đã khàn vì sự ảnh hưởng của 5 căn bệnh có cả những chất hoá học nguy hiểm của những trận chiến tranh, ông sống chúng với bệnh mà vẫn vô tư, yêu đời lắm.Kết thúc buổi gặp gỡ ông bà niềm nở mời em đến chơi cùng ông bà bất cứ lúc nào. Những con người chân chất giản dị, gặp gỡ không chỉ cho em thêm bài học mà còn đã để lại trong lòng em nhiều cảm xúc. Lòng biết ơn về sự dũng cảm, hi sinh của cha ông và cả sự chân trọng mà thời bình mang lại, điều đó thôi thúc chúng em phải thật cố gắng cho sau này.



