Phan Bội Châu (1867 – 1940)
Phan Bội Châu (1867 – 1940), tên thật là Phan Văn San, hiệu là Sào Nam, là một nhà yêu nước vĩ đại, nhà cách mạng kiệt xuất và là lãnh tụ tối cao của các phong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người khởi xướng Phong trào Đông Du, dùng ngòi bút tài hoa và nhiệt huyết của mình để thức tỉnh hồn sông núi, hiệu triệu tinh thần yêu nước của hàng triệu đồng bào.
Phan Bội Châu sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa (nay thuộc xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) – mảnh đất giàu truyền thống cách mạng. Ngay từ nhỏ, ông đã bộc lộ tư chất "thần đồng", 6 tuổi học hết Tam Tự Kinh, 13 tuổi đỗ đầu huyện, và đến năm 1900, ông đỗ Giải nguyên (thủ khoa) kỳ thi Hương tại trường Nghệ. Tuy nhiên, thay vì chọn con đường làm quan để hưởng vinh hoa phú quý dưới chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp, Phan Bội Châu đã chọn dấn thân vào con đường cứu nước gian khổ. Với quan điểm muốn đánh đuổi giặc Pháp thì không thể đi xin xỏ mà phải dùng bạo lực cách mạng kết hợp ngoại viện, ông đã đi khắp trong Nam ngoài Bắc để liên kết với các sĩ phu yêu nước, thành lập Duy Tân hội vào năm 1904. Bước ngoặt vĩ đại trong sự nghiệp của Phan Bội Châu là việc khởi xướng và lãnh đạo Phong trào Đông Du (1905 – 1909). Nhận thấy Nhật Bản là một nước đồng văn, đồng chủng ở châu Á đã duy tân thành công và trở nên hùng mạnh, ông đã bí mật tổ chức đưa hàng trăm thanh niên Việt Nam yêu nước (trong đó có cả Kỳ Ngoại hầu Cường Để) sang Nhật học tập về quân sự và khoa học kỹ thuật, nhằm chuẩn bị lực lượng cho cuộc lật đổ ách thống trị của Pháp sau này. Tại nước ngoài, ông không chỉ lo kinh phí cho học sinh mà còn viết hàng loạt tác phẩm văn thơ tâm huyết như Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư... gửi về nước. Những vần thơ rực lửa, thấm đẫm huyết lệ của ông đã đánh trúng vào lòng tự tôn dân tộc, lay chuyển tâm tư của các tầng lớp sĩ phu và nhân dân, tạo nên một làn sóng yêu nước sục sôi khắp cả nước. Khi thực dân Pháp câu kết với chính phủ Nhật Bản trục xuất các du học sinh Việt Nam, phong trào Đông Du tan rã, Phan Bội Châu tiếp tục bôn ba sang Trung Quốc và Thái Lan để tìm đường hướng mới. Năm 1912, sau khi cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc thành công, ông cải tổ Duy Tân hội thành Việt Nam Quang phục hội với mục tiêu tối cao là đánh đuổi giặc Pháp, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam. Suốt những năm tháng gian truân, ông bị mật thám Pháp ráo riết săn lùng, từng bị tù đày tại Quảng Đông nhưng ý chí kiên cường chưa bao giờ lung lay. Đến năm 1925, do sự phản bội của kẻ phản tỉnh, ông bị mật thám Pháp bắt cóc tại Thượng Hải và đưa về nước xét xử, tuyên án tử hình. Trước làn sóng đấu tranh, biểu tình rầm rộ của nhân dân và học sinh toàn quốc đòi thả tự do cho ông, thực dân Pháp buộc phải giảm án xuống tù chung thân và đưa ông về giam lỏng tại Huế. Trong 15 năm cuối đời bị giam lỏng tại Bến Ngự (Huế), ông được nhân dân kính cẩn gọi là "Ông già Bến Ngự". Dù bị tước đoạt quyền tự do hoạt động cách mạng, ông vẫn giữ vẹn nguyên khí tiết, tiếp tục dùng ngòi bút để viết sách, làm thơ giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vào năm 1940. Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu dù chưa đi đến thắng lợi cuối cùng, nhưng ông đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử là người gieo mầm cách mạng, đánh thức tinh thần quật khởi của dân tộc từ trong đêm tối, trở thành một tượng đài bất tử, một "bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng thánh sống" như lời ngợi ca trân trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


