PHAN BỘI CHÂU
Phan Bội Châu (1867-1940) tại làng Đan Nhiệm (nay là xã Xuân Hoà), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Lúc nhỏ ông nổi tiếng “thần đồng”, đỗ Giải nguyên (1900). Năm 17 tuổi ông đã viết hịch “Bình Tây thu Bắc”, năm 19 tuổi, ông lập Đội sĩ tử Cần vương để hưởng ứng “Chiếu Cần vương” chống Pháp. Năm 1904, ông thành lập Hội Duy Tân chủ trương “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt ”. Từ 1905 đến 1909, ông trực tiếp lãnh đạo phong trào Đông Du, tổ chức gần 200 thanh niên yêu nước xuất dương sang Nhật Bản học tập quân sự, khoa học kĩ thuật. Tháng 3/1909, ông tổ chức Đông Du bị giải tán, ông bị trục xuất khỏi Nhật Bản. Ông về Trung Quốc rồi sang Xiêm (Thái Lan) xây dựng cơ sở cách mạng. Tại Trung Quốc ông lập ra Việt Nam Quang phục Hội với cương lĩnh chính trị “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập Cộng hoà Dân quốc”. Tháng 6/1925, ông bị thực dân Pháp bắt và tuyên án tử hình. Trước phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước đòi thả Phan Bội Châu, thực dân Pháp buộc phải đưa ông về an trí ở Bến Ngự (Huế). Trong 15 năm cuối đời, ông vẫn giữ trọn phẩm cách cao khiết, không ngừng tuyên truyền tinh thần yêu nước bằng văn thơ, viết báo, được nhân dân yêu mến.
Phan Bội Châu là chí sĩ yêu nước, nhà cách mạng nổi tiếng theo xu hướng bạo động ở Việt Nam đầu thế kỉ 20, nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Ông là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” (Nguyễn Ái Quốc).



