Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Phan Bội Châu - bậc anh hùng, vị thiên sứ của dân tộc

Phan Bội Châu tên thật là Phan Văn San, hiệu Sào Nam, sinh năm 1867, ở thôn Sào Nam, làng Đan Nhiệm - nay là xã Xuân Hoà, huyện Nam Đàn (Nghệ An). Lớn lên trên một vùng quê giàu truyền thống hiếu học và yêu nước, chỉ 3 ngày cậu bé San đã đọc thuộc cuốn "Tam Tự Kinh" dày hàng trăm trang. Say mê học và thông minh kỳ lạ, 16 tuổi Phan đã 3 lần đỗ đầu xứ; 17 tuổi, chong đèn viết hịch “Bình Tây thu Bắc”.

Nghệ An29/10/2026Chi đoàn 12A3 - THPT Tân Kỳ (Đoàn xã Tân Kỳ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1898, sau khi bị mắc oan tội “hoài hiệp văn tự” (mang văn tự trong áo) và bị kết án “Chung thân bất đắc ứng thi” (tức là suốt đời không được đi thi nữa), Phan khăn gói vào Huế với vai trò là một thầy đồ nhưng thực chất là muốn tiếp xúc với các bậc danh sĩ, đại khoa đang giữ chức vụ quan trọng ở kinh đô để bắt mối đồng tâm.

Tại trường Quốc Tử Giám, Phan cùng làm bài phú với các học trò của trường: "Bái thạch vi huynh". Bài Phú đã gây một tiếng vang lớn cho giới văn thân, quan trường thời đó:

“Kẻ trượng phu đâu khuất chí, bậc thái thượng chẳng nao lòng!

Cột chống lưng trời, nêu gương cương thường muôn thuở

Tiếng vang mặt đất, dậy văn bút hai vùng!…”.

Bài phú đã khiến Khiếu Năng Tỉnh cảm phục và can thiệp với triều đình xoá án “hoài hiệp văn tự” cho Phan Văn San.

Năm 1900, Phan trở về quê hương xứ Nghệ để dự kỳ thi hương và đỗ giải nguyên với lời ngợi ca “Bảng một tên, lừng lẫy tiếng làng văn”. Từ đây, ông chính thức bước vào cuộc đời hoạt động cách mạng với tên gọi Phan Bội Châu.

Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam có một đôi mắt đã hướng thẳng ra đại dương để đến với một chân trời mới, một lý tưởng cứu nước mới. Phan Bội Châu phất cao ngọn cờ Duy Tân với chủ trương vũ trang bạo động và tạo dựng khối đoàn kết toàn dân: “Nướng nhiệt tình có thể làm khô bể/Cậy đoàn thể có thể vá được trời”.

Thực hiện tinh thần đó, một ngày đầu năm 1905, Phan cùng 2 người bạn của mình là Đặng Tử Kính và Tăng Bạt Hổ ra đi, mở đầu cho 20 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Phan đã đến với Nhật Bản xứ sở hoa anh đào - một đất nước phồn thịnh bậc nhất châu Á lúc bấy giờ. Mục đích của Duy Tân hội chuyển từ cầu viện sang cầu học, từ đó đã đánh dấu cho sự hình thành một phong trào mới trên đất Nhật: phong trào Đông Du.

Công cuộc Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng đã dấy lên một phong trào xuất dương yêu nước mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử lúc bấy giờ. Hàng trăm thanh niên đã “Vứt hết sách vở văn chương... lìa bỏ làng mạc, vợ con băng ngàn lội suối, bất chấp mọi thiếu thốn nguy hiểm để qua Nhật, qua Xiêm mà du học, mà trù liệu việc đánh Tây”.

Tại Nhật Bản, nhà chí sỹ yêu nước của Việt Nam đã gặp một số nhân vật quan trọng, sẵn sàng hỗ trợ Phan Bội Châu trên chặng đường ái quốc của mình, Có thể kể đến những người như: Okumura, Kashiwabara Buntaro, đặc biệt là bác sỹ Asaba Sakitaro. Khi thực dân Pháp ép buộc Nhật trục xuất hết các du học sinh Đông Du, họ gần như rơi vào bước đường cùng. Chính lúc ấy, bác sỹ ASaba đã cứu giúp Phan và những người đồng chí. Ơn nghĩa ấy, khiến Phan Bội Châu cảm kích vô cùng. 9 năm sau, khi Phan Bội Châu trở lại Nhật để nói lời cảm tạ bác sỹ thì ông đã qua đời sau một cơn bạo bệnh. Quá đau buồn và tiếc nuối, Phan Bội Châu đến quê hương của ông và dựng bia báo ân người bạn lớn của mình. Văn bia viết: “Chúng tôi vì nạn nước mà bôn tẩu tới đất Phù Tang, ngài nể thương cái chí ấy mà cứu giúp trong cơn khốn quẫn chẳng màng đến ơn trả ngày sau, thực là nghĩa hiệp chưa từng có xưa nay, nghĩa lớn khắp cả trong ngoài, ngài ban thời như trời lớn, tôi nhận thời như biển đầy...” .

Trước những ảnh hưởng to lớn của Phan Bội Châu, thực dân Pháp đã quyết tâm tiêu diệt vị lãnh tụ này bằng mọi cách. Tháng 6/1925, khi đang trên đường đi từ Hàng Châu về Quảng Châu (Trung Quốc) thì ông bị địch bắt. Nhưng âm mưu sát hại Phan Bội Châu của thực dân Pháp bị bại lộ. Toàn dân Việt Nam lúc đó mà đặc biệt là giới thanh niên trí thức đã dấy lên một phong trào đấu tranh mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử, đòi trả tự do cho Phan. Trước sức ép đó, thực dân Pháp phải xoá bỏ án chung thân nhưng chúng buộc cụ Phan phải bị quản thúc ở Huế mà không được trở về quê hương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn