. Phan Bội Châu: Cánh chim bằng bôn ba tìm đường cứu nước
Hãy cùng bước chậm lại, quay về với những năm tháng đất nước còn chìm trong đêm dài nô lệ, để nghe câu chuyện về một người đã dành cả một đời phong trần, bôn ba khắp góc bể chân trời chỉ để đi tìm một ngọn lửa soi đường cho dân tộc.
Phan Bội Châu sinh ra ở vùng quê nghèo Nam Đàn, xứ Nghệ. Thuở thiếu thời, ông nổi danh là một bậc kỳ tài, thi đỗ Giải Nguyên (đứng đầu kỳ thi Hương) khi tuổi đời còn rất trẻ. Trong mắt xóm làng và triều đình, con đường quan lộ rực rỡ đang trải thảm chờ ông bước tới.
Thế nhưng, giữa lúc sơn hà nguy biến, thực dân Pháp giày xéo lên cảnh lầm than của bá tánh, Phan Bội Châu đã chọn cách vứt bỏ bút nghiên của lối học từ chương. Ông đau xót nhận ra rằng, làm quan trong thời buổi nước mất nhà tan chẳng khác nào cam phận làm bù nhìn, cúi đầu nhẫn nhục.
Ông mang bầu máu nóng của một kẻ sĩ, rời quê hương, bắt đầu những chuyến đi không mỏi mệt khắp ba miền Bắc – Trung – Nam để kết giao hào kiệt, tìm kiếm những tấm lòng cùng chung chí hướng khôi phục giang sơn.
Khi nhận ra sức mạnh của những phong trào canh tân tại các nước lân bang, năm 1905, Phan Bội Châu đã quyết định băng rừng vượt biển, tìm đường sang Nhật Bản. Ông không đi để cầu xin một ân huệ, mà đi để tìm kiếm một con đường tự cường.
Tại nơi đất khách, ông viết nên "Hải ngoại huyết thư" - những dòng chữ viết bằng máu và nước mắt từ phương xa gửi về quê nhà. Từng câu, từng chữ như tiếng chuông cảnh tỉnh, kêu gọi đồng bào mau chóng tỉnh giấc mê sảng, khuyên thanh niên cắt bỏ lọn tóc củ tỏi, vứt bỏ lối học cũ để sang phương Đông tầm sư học đạo.
Hàng trăm thanh niên ưu tú nước Việt thời bấy giờ đã vượt muôn trùng sóng gió, lén lút lên tàu sang Nhật theo tiếng gọi của ông. Phong trào Đông Du ngày ấy như một ngọn lửa thắp lên giữa đêm thâu, gieo vào lòng người những hạt mầm hy vọng về một thế hệ trí thức mới có thể đánh đuổi ngoại xâm.
Thế nhưng, con đường cứu nước nào đâu trải hoa hồng. Khi thực dân Pháp cấu kết với đế quốc Nhật Bản, phong trào Đông Du bị đàn áp. Hàng trăm học sinh phải xót xa quay về, còn Phan Bội Châu bị trục xuất khỏi đất Nhật.
Từ đây, ông bắt đầu một quãng đời lưu lạc đầy bi tráng. Ông sang Trung Hoa, lặn lội đến Xiêm La (Thái Lan), chịu muôn vàn đắng cay, đói rét. Có những ngày, vị thủ lĩnh ấy phải nhặt nhạnh từng đồng tiền lẻ, thậm chí cày cuốc trên mảnh đất khô cằn nơi hải ngoại để nuôi sống những người đồng chí chí cốt. Dẫu thân thể hao mòn vì sương gió, nhưng đôi mắt ông vẫn luôn hướng về phía trời Nam, trái tim chưa một ngày thôi nhức nhối vì nỗi đau mất nước.
Năm 1925, do một sự phản trắc, Phan Bội Châu bị mật thám Pháp bắt cóc tại Thượng Hải và bí mật đưa về nước để kết án tử hình. Thế nhưng, kẻ thù đã nhầm. Chúng không ngờ rằng, việc bắt giữ ông lại tạo ra một làn sóng phẫn nộ rung chuyển khắp Bắc – Trung – Nam. Khắp nơi, học sinh, sinh viên, người lao động bãi khóa, bãi công đòi ân xá cho "Cụ Phan".
Trước sức ép khổng lồ của lòng dân, thực dân Pháp buộc phải nhượng bộ, đưa ông về giam lỏng tại Bến Ngự (Huế).
Những năm tháng cuối đời, "Ông già Bến Ngự" sống một cuộc đời thanh bạch trong căn nhà tranh bên dòng sông Hương. Dù bị quản thúc, không thể tự do đi lại, nhưng nơi căn nhà nhỏ ấy đã trở thành một chốn linh thiêng. Thanh niên, học sinh ngày ngày đến thăm ông để được nghe lời dạy bảo, để xin một dòng thơ, hay chỉ để nhìn thấy bóng dáng của một bậc trượng phu đã dâng hiến trọn đời cho non sông.
Khi ông nhắm mắt xuôi tay, cả nước để tang. Cả một đời bôn ba, Phan Bội Châu chưa từng tự tay bắn một viên đạn vào kẻ thù, cuộc khởi nghĩa do ông xướng xuất cũng chưa một lần đi đến thắng lợi cuối cùng. Thế nhưng, công lao vĩ đại nhất của ông chính là việc “thức tỉnh hồn nước”. Ông là người gióng lên hồi trống báo sáng, để những thế hệ sau tiếp bước mà tìm ra con đường chân lý.
Lịch sử sẽ mãi khắc ghi hình ảnh một bậc nho sĩ khoác áo vải, với ngòi bút sắc như gươm và trái tim đỏ như lửa, mãi mãi là một "ngôi sao Bắc Đẩu" trên bầu trời nước Việt.



