Phan Bội Châu – người thức tỉnh linh hồn đất nước
Phan Bội Châu xuất thân là một nhà nho, nhưng ông không đi theo con đường của các nhà nho truyền thống: đi học, đi thi, gặp thời thì ra làm quan, giúp vua, giúp nước, không gặp thời thì về ở ẩn, giữ mình trong sạch giữa chốn bụi trần. Phan Bội Châu sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Nghệ, nơi đất đai cằn cỗi, thiên nhiên khắc nghiệt. Đặc điểm tự nhiên này tạo cho người Nghệ Tĩnh tính cách cần cù, tiết kiệm, chịu thương, chịu khó, rất chăm lo việc học hành.

Phan Bội Châu (1867-1940), sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867, ở làng Đan Nhiệm, nay là xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; tên khai sinh là Phan Văn San (nhân dân thường gọi là Giải San), tự Hải Thu, bút hiệu: Sào Nam, Thị Hán, Độc Tỉnh Tử, Hãn Mãn Tử, Việt Điểu...
Bước vào những năm đầu của thế kỷ XX, trong bối cảnh ngột ngạt của xã hội thuộc địa, Phan Bội Châu đã thể hiện sự vượt thoát khỏi tầm nhìn hạn hẹp, bảo thủ của nhiều nhà nho lúc bấy giờ, hướng ra thế giới bên ngoài để tìm con đường cứu nước mới. Lịch sử đã giao cho ông trọng trách của người tìm đường, lại được gặp gỡ những ngọn gió lớn của thời đại, ông đã thể hiện khát vọng đổi mới mạnh mẽ, dám đứng lên làm cách mạng bằng một con đường khác, cách thức khác. “Nhà nho vốn là nhân vật nông thôn, chỉ thích hợp với chế độ phong kiến phương Đông. Cuộc vận động duy tân, dân chủ hóa của nhà nho là việc trái với bản chất, trái với quy luật của chính nhà nho, không những đòi hỏi ở họ sự cố gắng vượt bậc, mà còn đặt họ trước những khó khăn không thể vượt qua”.
Từ một nhà nho, Phan Bội Châu đã trở thành nhà chính trị, “người chí sĩ cách mạng”, lãnh tụ của nhiều tổ chức cách mạng. Cũng như nhiều nhà nho duy tân lúc bấy giờ, Phan Bội Châu nhìn thấy hai vấn đề lớn của dân tộc: Độc lập, chủ quyền dân tộc và canh tân, phát triển xã hội. Nước Nhật cùng màu da vàng, thành công trong cải cách duy tân, lại vừa là người chiến thắng trong chiến tranh Nga – Nhật là nơi ông tìm đến. Con đường “Đông du”, đưa các thanh niên ưu tú sang Nhật học tập rồi trở về cứu nước là con đường mà ông đặt nhiều kỳ vọng. Hàng trăm thanh niên đã vứt bỏ mộng khoa bảng, từ biệt xóm làng, gia đình, quê hương, hăm hở xuất dương sang Nhật, trong đó có nhiều thanh niên xuất sắc quê xứ Nghệ: Hoàng Trọng Mậu, Nguyễn Thức Canh, Nguyễn Thức Đường, Bùi Chính Lộ…
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ở nước ngoài, Phan Bội Châu tìm cách tiếp xúc với rất nhiều chính khách nổi tiếng, với mục đích tìm chỗ dựa, tìm sự hỗ trợ cho phong trào cách mạng trong nước: Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên, Khuyển Dưỡng Nghị, Thiển Vũ… Và trong hơn 20 năm hoạt động cách mạng, Phan Bội Châu đã liên tục điều chỉnh, thay đổi đường lối, giải tán, cải tổ nhiều tổ chức do ông sáng lập. Dù ở phương diện này, có người cho rằng, ông đã thiếu đi “những nghiên cứu nghiêm túc, sâu sắc về lý luận cách mạng”, nhưng đồng thời cũng thể hiện là “một người táo bạo, tìm đường không mỏi” trong sự nghiệp cứu nước của mình.
Phan Bội Châu đã nhiều lần sử dụng văn chương nhằm thực hiện mục đích chính trị. Khi còn ở trong nước, ông viết “Song Tuất lục” ca tụng phong trào văn thân chống Pháp ở Nghệ Tĩnh. Bài phú “Bái thạch vi huynh” tạo cơ hội cho ông làm quen với giới trí thức Huế, từ đó kết nối với những người đồng chí hướng. Những năm ở nước ngoài, ông càng ý thức đầy đủ hơn về việc dùng văn chương để tuyên truyền chủ trương, đường lối cách mạng. Vừa lo công việc của tổ chức, ông vừa viết sách giới thiệu Việt Nam, cách mạng Việt Nam ra bên ngoài: Việt Nam vong quốc sử (1905), Việt Nam quốc sử khảo (1908), viết thư, làm thơ cổ động gửi về nước: Hải ngoại huyết thư, Kính cáo toàn quốc phụ lão văn, Thư gửi Phan Châu Trinh, Ai cáo Nam Kỳ phụ lão thư… Trong thời gian ở Bến Ngự, Phan Bội Châu viết nhiều sách giáo dục lòng yêu nước như “Nam quốc dân tu tri”, “Nữ quốc dân tu tri”, viết nhiều thơ, phú đăng báo, nhất là trên tờ “Tiếng dân”.
Chính bầu nhiệt huyết cứu nước cháy bỏng cùng với ngòi bút tài năng đã tạo nên những câu văn, “câu thơ dậy sóng”, có tác dụng kích động lòng người một cách trực tiếp. Thơ Phan Bội Châu hùng tráng, hào sảng, có khả năng tác động mạnh mẽ đến người đọc, kích động lòng người. Sức tác động ấy mạnh mẽ đến mức có thanh niên mới 15, 16 tuổi là Nguyễn Thức Đường đọc xong “Lưu Cầu huyết lệ tân thư” đã quên ăn, quên ngủ, chỉ nghĩ chuyện cứu nước, cứu nhà. Hay ông Tán Thuật lừng lẫy một thời, cuối đời ở nước ngoài chán nản, lẩn trốn thế sự trong khói thuốc đèn bàn, nhưng đọc “Việt Nam vong quốc sử” đã khơi lại được bầu nhiệt huyết sôi động trước kia, tiếp tục liên hệ với các đồng chí, tích cực hoạt động cứu nước cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay.
Trong tâm thức của người dân Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng, Phan Bội Châu là một nhà nho yêu nước, nhà hoạt động chính trị, nhà tư tưởng, nhà văn. Ông là ngọn đuốc sáng cách mạng khoảng 20 năm đầu của thế kỷ XX, tác giả của nhiều thơ văn có ảnh hưởng sâu rộng đến cả một thế hệ. Ông mãi mãi là tấm gương sáng về nhân cách, bản lĩnh và khí phách của một con người, một dân tộc. Phan Bội Châu tự nhận mình là con người thất bại, không về đến đích, nhưng ông để lại bài học lớn, là tấm gương tuyệt đẹp cho hậu thế. Đó là bài học, tấm gương về lòng yêu nước thiết tha, cháy bỏng, về sự quyết liệt trong hành động, về niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của dân tộc.



