Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh: Cặp bài trùng trong lịch sử cận đại Việt Nam (Phần 2 và hết)

2.Vấn đề đối tượng của cuộc cách mạng hay là nhận diện kẻ thù.
Một nửa kia của Phan Bội Châu là Phan Châu Trinh đã từng xác định với Thống đốc Nam kỳ khi ông này ra thẩm vấn cụ Phan Châu Trinh tại nhà đày Côn Đảo trước khi trả lại tự do cho Cụ: “Phan Bội Châu nhận hẳn rằng, người Pháp quyết không có thiệt lòng khai hóa cho người Nam, nên nói việc khai hóa trước phải tìm cách đánh đổ Chính phủ Pháp, không nhờ cậy một nước thế lực, một nước mạnh ngoài, thì tự người Nam không làm gì được. Hiện nay, nước mạnh duy có Nhật Bản là nước đồng văn đồng chủng nên cầu viện Nhật Bản..”(5)
Còn Phan Châu Trinh, từ khi ở Nhật về, không ngớt hô hào: “bất bạo động, bạo động tắc tử”, nghĩa là chớ bạo động, bạo động là chết, là vô ích như lũ phù du rơi vào ngọn đèn. “Ỷ Pháp, cầu tiến bộ”, tức dựa vào Pháp, tự lực khai hóa nhằm ba mục tiêu: Khai dân trí, tức bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ cùng kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục; Chấn dân khí, tức thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, mọi người giác ngộ quyền lợi của mình, giải thoát khỏi tư tưởng chuyên chế phong kiến; và hậu dân sinh, tức phát triển kinh tế, khai hoang, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hóa, cải thiện đời sống của nhân dân bằng phương pháp cách mạng phi bạo lực, hoà bình.
Phan Châu Trinh theo đuổi những mục đích “đánh đổ chuyên chế, làm cho dân quyền tự do”(6) cho đến hơi thở cuối cùng, ngay khi được Nguyễn An Ninh đón về nước, sức đã yếu, Cụ vẫn tiếp tục diễn thuyết tại Sài Gòn với hai đề tài: Quân trị chủ nghĩa hay Dân trị chủ nghĩa và Đạo đức luân lý Đông Tây. Với đề tài đầu, Cụ say sưa: “Chủ nghĩa Dân trị hay hơn chủ nghĩa Quân trị nhiều lần. Lấy theo ý riêng của một người hay là của một Triều đình mà trị một nước, thì cả nước ấy không khác một đàn dê, được no ấm vui vẻ hay là phải đói rét khổ sở chỉ theo lòng của người chăn. Còn như theo chủ nghĩa Dân trị, thì tự quốc dân lập ra Hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc dân muốn thế nào thì làm thế ấy. Dù không có người tài giỏi làm cho hay lắm, cũng không đến nỗi phải bị đè đầu khốn nạn làm tôi mọi cho một nhà, một họ nào…”
Trong phong trào cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX, phái bạo động của Phan Bội Châu hoạt động bí mật, gọi là ám xã, còn phái tự lực khai hóa của Phan Châu Trinh hoạt động công khai thường được gọi là phái minh xã. Hai phái này thường phối hợp hoạt động trong nước và ngoài nước. Do sự bổ sung cho nhau của cặp bài trùng trên nhiều bình diện nên phong trào cách mạng đầu thế kỷ trước phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức.
Nhưng cuối cùng như Tôn Quang Phiệt đã nhận định trong công trình nghiên cứu của mình về hai ông: “Cả hai phái bạo động và cải lương đều thất bại, vì nước ta chưa đủ điều kiện chủ quan và khách quan để đuổi được ngoại xâm giành được độc lập. Tuy nhiên cách mạng vũ trang của Phan Bội Châu được người sau noi theo và đã thành công. Các nhà hoạt động cách mạng thường nói “thất bại là mẹ thành công”, trường hợp này rất đúng. Còn chủ trương cải lương của Phan Châu Trinh thì bị thất bại là bị phá sản luôn, sau Phan Châu Trinh những nhà chân chính ái quốc của nước ta không ai đi theo con đường ấy nữa”.
Trong trường hợp này, không thể đem thắng bại mà luận anh hùng và luận đúng sai. Sự phân tranh giữa phái bạo động, phái ám xã do Phan Bội Châu chủ xướng và phái tự lực khai hóa hay phái minh xã do Phan Chu Trinh lãnh đạo hồi đầu thế kỷ XX ở Việt Nam không chống nhau mà bổ sung cho nhau và làm cho phong trào cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản phong phú về nội dung và hình thức để trên nền tảng đó mà các chính đảng về sau trông vào và đề ra những vấn đề chiến lược và sách lược trong cương lĩnh của mình. Từ đó, chúng ta có thể kiểm chứng tính đúng đắn về chiến lược và sách lược trong Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng tổng hòa sự khác nhau, nhưng bổ sung cho nhau của cặp bài trùng Phan Bội Châu - Phan Châu Trinh trong lịch sử cận đại Việt Nam



