Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Phan Châu Trinh (1872 – 1926)

Phan Châu Trinh (1872 – 1926), hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu Hi Mã, là một nhà cách mạng lỗi lạc, nhà tư tưởng đi trước thời đại của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Khác với xu hướng bạo động vũ trang cùng thời, ông là người khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy T

Đà Nẵng25/10/2026Chi đoàn 10D1 - THPT Tân Kỳ (Đoàn xã Tân Kỳ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phan Châu Trinh sinh ra trong một gia đình võ quan tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam). Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, hiếu học, thi đỗ Cử nhân rồi Tiến sĩ năm 1901 và được bổ nhiệm làm quan bộ Lễ tại kinh đô Huế. Tuy nhiên, tận mắt chứng kiến sự thối nát, nhu nhược của triều đình phong kiến nhà Nguyễn và ách áp bức tàn bạo của thực dân Pháp, ông sớm chán ghét chốn quan trường. Năm 1905, ông dũng cảm từ quan, quyết định dấn thân vào con đường cứu nước. Ông đi khắp ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) để liên kết với các sĩ phu yêu nước và thậm chí sang cả Nhật Bản để khảo sát, học hỏi con đường đổi mới.

Sau khi trở về, Phan Châu Trinh đã đưa ra một đường lối cách mạng vô cùng táo bạo và khác biệt. Trong khi người bạn thân thiết của ông là Phan Bội Châu chủ trương dùng bạo động vũ trang và dựa vào Nhật để đánh Pháp, thì Phan Châu Trinh lại kiên quyết phản đối con đường bạo lực khi dân trí còn thấp kém. Ông cho rằng "cậy ngoại viện thì ngu, bạo động thì chết". Ông đề xướng phong trào Duy Tân nhằm tự lực tự cường dân tộc dựa trên ba trụ cột cốt lõi:

  • Khai dân trí: Mở mang trường học, dạy chữ Quốc ngữ, truyền bá khoa học thực nghiệm và tư tưởng tiến bộ phương Tây, từ bỏ lối học từ chương hủ bại.

  • Chấn dân khí: Thức tỉnh tinh thần tự tôn dân tộc, phê phán thói rụt rè, cam chịu của người dân, khuyến khích tinh thần đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng.

  • Hậu dân sinh: Phát triển kinh tế, mở mang công thương nghiệp, khơi dậy nghề thủ công, vận động người dân cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn, bài trừ hủ tục lạc hậu để sống văn minh.

  • Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào Duy Tân và cuộc biểu tình chống thuế của nông dân miền Trung năm 1908 đã khiến thực dân Pháp hoảng sợ. Chúng bắt giam Phan Châu Trinh và đày ông ra Côn Đảo. Nhờ sự can thiệp của Hội Nhân quyền Pháp, ông được trả tự do nhưng bị giám lỏng, sau đó sang Pháp sống và hoạt động suốt 14 năm (1911 – 1925). Tại Paris, ông tiếp tục viết báo, diễn thuyết vạch trần tội ác thực dân, đòi quyền tự do dân chủ cho Việt Nam và có ảnh hưởng sâu sắc đến thế hệ thanh niên yêu nước lúc bấy giờ, trong đó có Nguyễn Ái Quốc.

    Năm 1925, ông trở về nước khi sức khỏe đã suy kiệt nhưng vẫn cố gắng diễn thuyết hai bài nổi tiếng tại Sài Gòn là "Đạo đức và luân lý Đông Tây" và "Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa". Ngày 24 tháng 3 năm 1926, Phan Châu Trinh tạ thế tại Sài Gòn. Đám tang của ông đã biến thành một cuộc tổng biểu tình biểu dương lực lượng yêu nước vĩ đại chưa từng có với hàng chục vạn người tham gia trên khắp cả nước, tạo nên một làn sóng thức tỉnh tinh thần dân tộc mạnh mẽ trong lòng thế hệ trẻ.

    Phan Châu Trinh qua đời khi hoài bão chưa thành, nhưng tư tưởng "Dân chủ - Dân quyền" và tinh thần tự lực canh tân đất nước của ông là một di sản vô giá. Ông đi vào lịch sử như một bậc vĩ nhân, một ngọn hải đăng của tư duy đổi mới, người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho hành trình hiện đại hóa văn hóa, xã hội và tư tưởng độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn