Bài viết

Phan Châu Trinh

Nguyễn Thị Ngọc Hân

22/08/2026xã Đại Sơn (Xã Đại Sơn)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phan Châu Trinh (1872–1926) (hay Phan Chu Trinh) là một nhà tư tưởng đi trước thời đại, người đã dũng cảm rũ bỏ chiếc áo quan trường để theo đuổi một con đường cứu nước khác biệt hoàn toàn với bạo động vũ trang: Con đường khai dân trí.

Phan Châu Trinh (hiệu Tây Hồ) sinh tại Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống võ học, cha ông tham gia nghĩa quân chống Pháp và bị sát hại do nghi kị lẫn nhau. Sau khi cha mất, Phan Châu Trinh trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp tục đi học. Ông học giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang và Phạm Liệu. Ông đỗ Phó bảng năm 1901 (đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn Sinh Sắc) và được bổ dụng làm Thừa biện Bộ Lễ.

Tuy nhiên, khi chứng kiến sự mục nát của triều đình Huế và cảnh lầm than của người dân dưới gông xiềng thuộc địa, ông sớm nhận ra rằng việc làm quan chỉ là tiếp tay cho sự thối nát.

Năm 1905 ông từ quan, rồi cùng với hai bạn học là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng (cả hai đều mới đỗ tiến sĩ năm 1904 làm một cuộc Nam du, với mục đích xem xét dân tình, sĩ khí và tìm bạn đồng chí hướng. Đến Bình Định, gặp kỳ khảo hạch thường niên của tỉnh, ba ông lẩn vào các khóa sinh. Vào trường thi, Phan Châu Trinh làm một bài thơ, còn hai bạn thì làm chung một bài phú. Cả ba đều ký tên giả là Đào Mộng Giác. Nội dung bài không theo đầu đề, mà chỉ kêu gọi sĩ tử đang đắm đuối trong khoa trường và danh lợi, hãy tỉnh dậy lo giải phóng giống nòi khỏi cảnh lao khổ.

Các tỉnh quan Nam triều hoảng sợ, đem bài trình cho viên Công sứ Pháp, đồng thời ra lệnh truy tìm tác giả, nhưng ba ông đã rời khỏi Bình Định, tiếp tục đi vào các tỉnh phía Nam Trung Kỳ.

Sau cuộc Nam du, kết giao được nhiều bạn bè đồng chi hướng, Phan Châu Trinh ra Nghệ-Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nội để gặp gỡ và hội ý với các sĩ phu tiến bộ, rồi lên căn cứ Đề Thám quan sát tình hình, nhưng ông thấy phong trào này khó có thể tồn tại lâu dài.

Năm 1906 ông bí mật sang Quảng Đông (Trung Quốc) gặp Phan Bội Châu, trao đổi ý kiến rồi cùng sang Nhật Bản, tiếp xúc với nhiều nhà chính trị tại đây (trong số đó có Lương Khải Siêu) và xem xét công cuộc duy tân của xứ sở này. Ông viết:

“Người nước ta thường tự xưng là đồng loại, đồng đạo, đồng văn với Nhật Bản, thấy họ tiến thì nức nở khen, chứ khi nào chịu xét vì sao họ được tiến như thế? Họ chỉ đóng tàu đúc súng mà được giàu mạnh hay họ còn trau dồi đạo đức, sửa đổi luân lý mới được như ngày nay?

Tôi rất lấy làm lạ cho những người đã qua Nhật về, không đem cái hay cái tốt về cho dân nhờ mà chỉ làm giàu thêm tính nô lệ!

Hay là người mình như kẻ đã hư phổi rồi cho nên một nơi có thanh khí như nước Nhật mà cũng không thở nổi chăng?

Lấy lịch sử mà nói thì dân tộc Việt Nam không phải là không thông minh, thế thì vì lẽ nào ở dưới quyền bảo hộ hơn 60 năm nay mà vẫn còn mê mê muội muội bịt mắt vít tai không chịu xem xét không chịu học hỏi lấy cái hay cái khéo của người”

“Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh"

Khác với Phan Bội Châu chủ trương bạo động và nhờ cậy ngoại bang (Nhật), Phan Châu Trinh đề xướng phong trào Duy Tân với tư tưởng cải cách xã hội từ bên trong.

• Khai dân trí: Bỏ lối học từ chương, thi cử sáo rỗng; mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến thức khoa học, kinh tế.

• Chấn dân khí: Thức tỉnh tinh thần tự lập, tự cường của dân tộc, dám lên tiếng chống lại sự áp bức của cường quyền.

• Hậu dân sinh: Phát triển kinh tế, lập hội buôn, khuyến khích canh nông để dân giàu nước mạnh.

Ông phát động phong trào "Cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn" – một biểu tượng của việc đoạn tuyệt với hủ tục phong kiến cũ để tiếp nhận văn minh mới.

Năm 1906, Phan Châu Trinh gửi một bức thư đanh thép cho Chính phủ bảo hộ Pháp, vạch trần tội ác của quan lại bản xứ và yêu cầu người Pháp phải thực hiện đúng những giá trị Tự do - Bình đẳng - Bác ái mà họ rêu rao.

Năm 1908, phong trào chống thuế bùng nổ ở miền Trung. Dù không trực tiếp lãnh đạo bạo động, nhưng thực dân Pháp đã mượn cớ đó để bắt giam ông và tuyên án tử hình. Nhờ sự can thiệp của các hội nhân quyền tại Pháp, ông được giảm án xuống chung thân và bị đày ra Côn Đảo. Chính thời gian này, ông đã viết bài thơ Đập đá ở Côn Lôn nổi tiếng với khí phách ngất trời:

“Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn/ Lừng lẫy làm cho lở núi non"…

Sau khi được tha và chịu sự quản thúc, năm 1911, chính quyền Đông Dương cử một đoàn giáo dục Đông Dương sang Pháp, có cả Phan Châu Trinh và con trai ông. Tại Paris, ông tiếp tục đấu tranh bằng ngòi bút, diễn thuyết và có mối liên hệ mật thiết với những nhà yêu nước trẻ tuổi như Nguyễn Ái Quốc. Ông luôn kiên định lập trường: Việt Nam muốn độc lập thì trước hết dân tộc phải thoát khỏi cảnh ngu muội và lệ thuộc vào tư tưởng phong kiến.

Năm 1925, ông trở về nước trong sự chào đón của hàng vạn đồng bào. Tuy nhiên, lúc này sức khỏe ông đã suy kiệt. Ông qua đời tại Sài Gòn vào năm 1926. Ðám tang Phan Châu Trinh năm 1926 đã biến thành một sự kiện chính trị khổng lồ. Hàng chục vạn người trên khắp cả nước đã làm lễ truy điệu và xuống đường để tang ông. Đây không chỉ là lễ tiễn đưa một con người, mà là sự bùng nổ của lòng yêu nước và ý chí tự do mà ông đã gieo mầm suốt cả cuộc đời.

Phan Châu Trinh là người đặt nền móng cho dân chủ, dân quyền tại Việt Nam. Ông nhìn thấy gốc rễ của sự mất nước là do dân trí thấp và chế độ quân chủ chuyên chế lỗi thời. Ông có công lớn trong việc thúc đẩy chữ Quốc ngữ và tư duy thực tế, thoát ly khỏi sự ràng buộc của Nho giáo lạc hậu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn