Bài viết

Phan Châu Trinh – ngọn đuốc khai dân trí

Quảng Ninh24/12/2025Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Hà An (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Hà An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tên câu chuyện:
Phan Châu Trinh – ngọn đuốc khai dân trí

Câu chuyện:

Ngày 9 tháng 9 năm 1872, tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, Phan Châu Trinh cất tiếng khóc chào đời. Lớn lên trong cảnh nước mất, dân nghèo, ông sớm nuôi trong lòng nỗi trăn trở về vận mệnh dân tộc.

Năm 27 tuổi, Phan Châu Trinh được vào học trường tỉnh và nhanh chóng nổi tiếng học giỏi, cùng với Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng trở thành bộ ba sĩ phu ưu tú của đất Quảng. Năm 1900, ông đỗ cử nhân, năm sau đỗ Phó bảng và được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ. Nhưng chốn quan trường không giữ chân được người trí thức mang khát vọng lớn. Chỉ sau một thời gian ngắn, ông xin từ quan, chọn con đường riêng để cứu nước.

Cùng bạn bè, ông đi du ngoạn khắp miền Trung và miền Nam. Đến Bình Định, nhân dịp khoa thi, ông và các bạn lấy chung tên Đào Mộng Giác, làm thơ kêu gọi “chí thành thông thánh”, đánh thức tinh thần dân tộc, khiến quan trường lúng túng, phải tâu về triều đình. Sau đó, ông ra Yên Thế, quan sát cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, để tận mắt thấy sức mạnh và giới hạn của con đường bạo động.

Năm 1906, Phan Châu Trinh sang Nhật Bản, gặp Phan Bội Châu. Dù rất khâm phục ý chí cứu nước của bạn đồng chí, ông không tán thành chủ trương dựa vào bạo lực và ngoại viện. Phan Châu Trinh chọn con đường cải cách ôn hòa, chủ trương khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, đòi quyền dân chủ cho nhân dân, coi đó là nền tảng để giành độc lập lâu dài.

Trở về nước, ông gửi bản điều trần cho Toàn quyền Đông Dương, diễn thuyết tại Đông Kinh Nghĩa Thục, viết Tỉnh quốc hồn ca, kêu gọi duy tân theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Tiếng nói thẳng thắn ấy khiến chính quyền thực dân lo ngại. Năm 1908, sau phong trào chống thuế ở Trung Kỳ, ông bị bắt và đày ra Côn Đảo.

Nhờ Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, ông được trả tự do năm 1911 nhưng bị quản thúc ở Mỹ Tho. Tại đây, ông tập hợp thơ văn thành Tây Hồ thi tập, rồi sang Pháp, vừa chụp ảnh kiếm sống, vừa tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1914, ông bị bắt giam vì bị nghi liên hệ với Đức, song do không có chứng cứ, thực dân Pháp buộc phải thả.

Ở Pháp, Phan Châu Trinh có mối liên hệ chặt chẽ với Nguyễn Ái Quốc. Năm 1922, khi vua Khải Định sang Pháp dự triển lãm thuộc địa, ông viết Thư thất điều, vạch rõ bảy tội của nhà vua, trong đó lên án mạnh mẽ việc làm nhục quốc thể và phung phí tiền của nhân dân. Khoảng năm 1923, ông tiếp tục viết Tỉnh quốc hồn ca mới, kêu gọi nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đoàn kết vì tự do và công lý.

Nhận thấy hoạt động ở Pháp không còn hiệu quả, Phan Châu Trinh trở về nước. Tại Sài Gòn, ông diễn thuyết về đạo đức Đông – Tây, về quân trị và dân trị, về tư tưởng duy tân, gieo mầm ý thức dân chủ cho xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Ngày 24-3-1926, Phan Châu Trinh qua đời sau thời gian dài lâm bệnh. Đám tang của ông diễn ra trên khắp ba kỳ, trở thành một cuộc biểu dương lớn của lòng yêu nước và ý chí chống thực dân. Không cầm gươm ra trận, Phan Châu Trinh đã chọn ngòi bút, lời nói và tư tưởng làm vũ khí. Ngọn đuốc ông thắp lên – khai dân trí, chấn dân khí – vẫn tiếp tục soi đường cho dân tộc Việt Nam trên hành trình tìm tự do và độc lập.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn