PHAN CHÂU TRINH - NGƯỜI NHÓM LỬA TRƯỚC BÌNH MINH
Khi lịch sử được viết bằng tiếng gươm đao, và tiếng súng từ những cuộc chiến tranh khốc liệt thì vẫn có những con người không ngừng miết mài cố gắng thực hiện khát vọng đổi mới, đánh thức tinh thần của người dân thế hệ. Và một trong số đó là Phan Châu Trinh – một minh chứng tiêu biểu cho lời viết trên. Ông là một nhà chí sĩ yêu nước đã không ngừng giúp đất nước, đã xuất hiện và dấn thân để cứu lấy dân tộc vào đầu thế kỷ XX, khi đất nước đang đắp chìm trong cảnh lầm than của kiếp nô lệ.
Phan Châu Trinh – Người gieo hạt khai sáng Việt Nam, là một nhà canh tân vĩ đại có tầm nhìn vượt thời gian. Ông sinh năm 1872 và mất năm 1926, hiệu là Tây Hồ, xuất thân từ một nhà Nho nghèo từ Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Từ nhỏ ông đã có tinh thần hiếu học. Năm 1901, ông đỗ Phó bảng và năm 1903 được làm quan của triều Nguyễn. Sau một khoảng thời gian làm quan thì ông xin từ quan để dấn thân vào hoạt động cách mạng, vì ông thấy rằng bộ máy nhà nước phong kiến đang sa đoạ, các quan lại thì nhu nhược và hoàn toàn bất lực trước thực chế độ phong kiến của thực dân Pháp.
Ông không đi theo con đường bạo động của các chí sĩ khác mà ông chọn một lối đi riêng biệt, vì chịu ảnh hưởng từ các tư tưởng của Pháp, từng thấy các cuộc duy tân ở Trung Quốc và Nhật Bản, và ông nhận ra rằng muốn có độc lập thì trước hết phải đưa nhân dân thoát khỏi lầm than và hũ tục. Vì ông hiểu được rằng sự đáng sợ nhất không phải là xiềng xích khóa tay đôi tay mà chính là khóa chặt trí tuệ của mọi người. Bởi một dân tộc có thể đánh bị chinh phục bằng sức mạnh nhưng chỉ bị đánh bại khi bị đánh mất khả năng tự chủ. Ông chọn hướng đi với mục tiêu sâu sắc: "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh". Ông Phan Châu Trinh dùng trí tuệ và đánh thức sự tự chủ của nhân dân làm nền tảng cho cuộc sống độc lập cho cả đất nước.
Với khát vọng cải cách đất nước, ông nhận định rằng nguyên nhân khiến đất nước ta mất quyền tự chủ là do không chỉ đến vì giặc ngoại xâm mà còn do chế độ phong kiến cổ hủ, sự khinh thường và chính sách "ngu dân" của chính quyền cai trị. Từ đó ông đã khởi xướng tinh thần cải cách Duy Tân với phương châm "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh".
Để thực hiện hóa khát vọng đổi mới đất nước, ông cùng các bằng hữu của mình khởi xướng phong trào Duy Tân (năm 1906) ở Quảng Nam. Ở Trung Kỳ thì phong trào được lan rộng với các hoạt động hữu ích như: Mở các trường dạy học chữ Quốc ngữ, truyền bá tư tưởng tự do, bình đẳng và các kiến thức khoa học. Cùng với đó ông đánh thức tinh thần tự chủ, tự cường và có thái độ phê phán mạnh mẽ sự thối nát của quan lại. Song song với đó ông còn có ý nguyện muốn phát triển nền kinh tế của nước nhà; ông khôi phục lại nghề truyền thống, công nghiệp nghiệp nhằm giúp cuộc sống của nhân dân có cuộc sống ấm no.
Con đường hoạt động của ông chưa bao giờ là dễ dàng mà ngược lại là rất gian truân. Khi thực hiện các hoạt động, ông từng bị chính quyền thực dân bắt giam tù, bị đày ra Côn Đảo (1908) và cả sang Pháp hoạt động và bị giám sát gắt gao của kẻ thù. Dù vậy nhưng ông vẫn kiên trì dưới ngòi bút và các lí lẽ sắc bén của mình chỉ ra chính sách bóc lột của bọn thực dân, đồng thời kêu gọi nhân dân đứng lên và có thể tự quyết định số phận của mình.
Được biết rằng Phan Châu Trinh không chỉ là một nhà tư tưởng tham gia hoạt động cách mạng mà ông còn là nhà báo, nhà văn, nhà thơ có lời văn , thơ đầy nhiệt huyết, có tư duy phê bình thẳng thắn về sự tan nát của giai cấp phong kiến, về các chính sách bóc lột của thực dân. Ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị lớn như Thất điều thư, Thư gửi Toàn quyền Beau,... Trong các bài văn, thơ của ông đều mang tinh thần nhân đạo và lòng yêu nước tha thiết cùng khát vọng tự do to lớn.
Vào tháng 3 năm 1926, ông đã trút hơi thở cuối cùng tại Sài Gòn (TP.HCM), đám tang lễ hoành tráng đã diễn ra khắp cả nước. Đó không chỉ là đám biến thành một cuộc biểu tình lớn của hàng vạn học sinh, thanh niên và nhân dân khắp cả nước. Đó không chỉ là sự tiếc thương của một nhà tư tưởng yêu nước mà còn là sự bùng nổ của tinh thần dân tộc mà ông dành cả đời của mình để thắp sáng.
Thời gian có thể trôi đi, nhưng tên tuổi của Phan Châu Trinh vẫn sẽ còn ở đó và sẽ khắc sâu vào trang sử của dân tộc. Đứng trước hình hài của đất nước hôm nay, mỗi học sinh chúng ta cần phải hiểu rõ hơn về trách nhiệm của bản thân trong học tập và rèn luyện tư tưởng, noi gương theo để tiếp nối ngọn lửa "Khai dân trí" mà cụ Phan Châu Trinh đã gửi gắm cho muôn đời sau. Và châm ngôn "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" sẽ mãi là kim chỉ nam tiếp sức cho thế hệ sau trên con đường xây dựng Tổ quốc thêm giàu mạnh và văn minh.



