Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Phan Đăng Lưu – Người chiến sĩ cách mạng dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh vì độc lập dân tộc

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng chí Phan Đăng Lưu được biết đến là một trong những nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Không chỉ là người chiến sĩ cộng sản kiên trung, ông còn là một nhà báo xuất sắc, người đã sử dụng ngòi bút như một vũ khí sắc bén để truyền bá tư tưởng cách mạng, cổ vũ phong trào đấu tranh và thức tỉnh lòng yêu nước trong quần chúng nhân dân.

An Giang15/06/2026Nguyên Trực (tổng hợp) (xã Long Kiến)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phan Đăng Lưu sinh ngày 5/5/1902 tại làng Tràng Thành, tổng Bạch Hà, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hoa Thành, tỉnh Nghệ An). Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước, có truyền thống hiếu học.

Từ nhỏ, ông được học chữ Hán, sau đó theo học chương trình Pháp – Việt tại Vinh rồi tiếp tục học ở Huế. Với tư chất thông minh và học lực xuất sắc, ông thi đỗ vào Trường Canh nông thực hành Hà Nội – một trong những cơ sở đào tạo kỹ thuật hàng đầu Đông Dương thời bấy giờ. Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc trong ngành nông nghiệp thuộc chính quyền thực dân. Tuy nhiên, trước cảnh đất nước chìm trong ách đô hộ, ông sớm từ bỏ con đường công chức để dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Năm 1928, Phan Đăng Lưu tham gia thành lập Tân Việt Cách mạng Đảng và nhanh chóng trở thành một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tổ chức. Cuối năm đó, ông được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) liên hệ với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhằm thúc đẩy việc thống nhất phong trào cách mạng trong nước.

Sau khi trở về nước, ông tích cực vận động thành lập tổ chức cộng sản. Cuối năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng và kết án 7 năm tù khổ sai, đày lên Nhà đày Buôn Ma Thuột.

Những năm tháng trong lao tù không làm suy giảm ý chí cách mạng của người thanh niên xứ Nghệ. Trái lại, đây là giai đoạn thể hiện rõ bản lĩnh và trí tuệ của một nhà cách mạng lớn.

Tại Nhà đày Buôn Ma Thuột, Phan Đăng Lưu không ngừng tự học, nghiên cứu lý luận chính trị và học tiếng Êđê. Nhận thấy đồng bào dân tộc thiểu số còn ít điều kiện tiếp cận thông tin, ông cùng các đồng chí bí mật tổ chức tờ báo viết tay “Doãn Đê tuần báo” bằng cả tiếng Việt và tiếng Êđê.

Đây được xem là một trong những tờ báo cách mạng đặc biệt nhất trong điều kiện lao tù thời bấy giờ. Chính Phan Đăng Lưu trực tiếp phụ trách nhiều chuyên mục về thời sự, giáo dục chính trị và hướng dẫn học tiếng Êđê. Những số báo được chuyền tay bí mật giữa các tù nhân và binh lính người Êđê, góp phần lan tỏa tinh thần yêu nước và ý thức cách mạng ngay trong chốn ngục tù.

Không dừng lại ở đó, ông còn bí mật viết nhiều bài báo bằng tiếng Pháp để tố cáo chế độ cai trị hà khắc của thực dân. Một số bài viết bị phát hiện khiến ông bị tăng thêm 5 năm tù khổ sai.

Năm 1936, trước thắng lợi của Mặt trận Bình dân tại Pháp và sự phát triển của phong trào dân chủ ở Đông Dương, Phan Đăng Lưu được trả tự do.

Ngay sau khi ra tù, ông được Đảng phân công phụ trách phong trào công khai và bán công khai tại Trung Kỳ. Đây cũng là giai đoạn tên tuổi ông gắn liền với hoạt động báo chí cách mạng.

Trong điều kiện bị chính quyền thực dân kiểm soát gắt gao, Phan Đăng Lưu vẫn kiên trì xây dựng các cơ quan báo chí làm tiếng nói của phong trào dân chủ. Khi báo Nhành Lúa bị đình bản, ông cùng các đồng chí tiếp quản và phục hồi tờ Sông Hương tục bản.

Mặc dù tòa soạn đặt tại Huế nhưng công tác biên tập, in ấn và phát hành được tổ chức linh hoạt ở nhiều địa phương khác nhau nhằm tránh sự theo dõi của chính quyền. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1937, báo Sông Hương tục bản xuất bản được 14 số, trở thành diễn đàn quan trọng của phong trào dân chủ Trung Kỳ và góp phần tích cực vào cuộc vận động tranh cử Viện Dân biểu Trung Kỳ năm 1937.

Khi Sông Hương tục bản bị đóng cửa, ông tiếp tục tổ chức xuất bản báo Dân. Với những bài viết sắc bén về dân sinh, dân chủ, chống sưu thuế và bảo vệ quyền lợi người lao động, tờ báo nhanh chóng thu hút đông đảo bạn đọc. Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1938, báo Dân ra được 17 số trước khi bị đình bản.

Không chấp nhận để tiếng nói cách mạng bị dập tắt, ông tiếp tục chỉ đạo xuất bản báo Dân Tiến tại Sài Gòn. Khi Dân Tiến bị đóng cửa, báo Dân Muốn lại tiếp tục ra đời.

Chỉ trong vài năm hoạt động công khai, Phan Đăng Lưu đã trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoặc tham gia biên tập nhiều tờ báo cách mạng có ảnh hưởng lớn tại Trung Kỳ và Nam Kỳ. Ông sử dụng nhiều bút danh khác nhau như Sông Hương, Phi Bằng, Tân Cương, Ly Toét, KĐ, Mục Tiêu, Thương Tâm... nhằm tránh sự theo dõi của mật thám thực dân.

Theo nhiều công trình nghiên cứu, riêng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ông đã viết gần 100 bài báo trên nhiều diễn đàn khác nhau, góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giác ngộ quần chúng và phát triển phong trào cách mạng.

Không chỉ là một cây bút xuất sắc, Phan Đăng Lưu còn là người có ảnh hưởng sâu sắc đối với nhiều trí thức trẻ lúc bấy giờ. Những nhân vật nổi tiếng sau này như Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, Thôi Hữu, Hồng Chương... đều từng chịu ảnh hưởng từ tư tưởng, phong cách làm việc và nhân cách của ông.

Nhà thơ Tố Hữu từng đánh giá Phan Đăng Lưu là một nhà lãnh đạo có trí tuệ uyên bác, phong cách giản dị và sức thuyết phục đặc biệt đối với giới trí thức trẻ.

Năm 1939, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1940, Trung ương giao ông vào Nam tham gia lãnh đạo Xứ ủy Nam Kỳ và chuẩn bị cho cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, ông được cử ra Bắc báo cáo và xin ý kiến Trung ương về kế hoạch khởi nghĩa. Sau khi trở lại Sài Gòn, ngày 22/11/1940, ông bị mật thám Pháp bắt giữ.

Dù nhận thức rõ cuộc khởi nghĩa còn nhiều khó khăn và chưa hội đủ điều kiện thuận lợi, ông vẫn quyết định ở lại cùng đồng chí, đồng đội. Sau thất bại của Khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp kết án tử hình ông cùng nhiều lãnh đạo cách mạng khác.

Ngày 28/8/1941, tại trường bắn Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), Phan Đăng Lưu hiên ngang bước ra pháp trường cùng các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần và Nguyễn Thị Minh Khai.

Ông anh dũng hy sinh khi mới 39 tuổi.

Cuộc đời hoạt động của Phan Đăng Lưu tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trên cả hai lĩnh vực cách mạng và báo chí. Ông là hình mẫu tiêu biểu của người trí thức yêu nước, nhà báo cách mạng và người cộng sản kiên trung đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Tên tuổi Phan Đăng Lưu mãi mãi được ghi nhớ như một tấm gương sáng về trí tuệ, bản lĩnh, lòng yêu nước và tinh thần cống hiến không ngừng nghỉ cho Tổ quốc và Nhân dân.

Nguyên Trực (tổng hợp)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn