PHAN ĐĂNG LƯU – TRÍ TUỆ CÁCH MẠNG VÀ KHÍ TIẾT TRÊN ĐOẠN ĐẦU ĐÀI NGÃ BA GIỒNG
Giữa những trang sử đỏ chói lọi của Nam Kỳ Khởi nghĩa năm 1940, cái tên Phan Đăng Lưu hiện lên như một biểu tượng của sự kết hợp hoàn hảo giữa trí tuệ uyên bác và lòng dũng cảm vô song. Ông không chỉ là một nhà lãnh đạo kiệt xuất mà còn là một nhà tư tưởng, người đã gieo những hạt giống lý luận đầu tiên cho phong trào giải phóng dân tộc tại vùng đất phương Nam nắng gió.
Phan Đăng Lưu sinh ra tại Yên Thành, Nghệ An – mảnh đất của những bậc sĩ phu yêu nước. Với vốn kiến thức uyên thâm, ông sớm nhận ra rằng muốn đánh đuổi thực dân Pháp, không chỉ cần lòng dũng cảm mà còn cần một hệ thống lý luận sắc bén. Ông là người đã có những đóng góp to lớn trong việc chỉ đạo phong trào Đông Dương Đại hội và sau đó là chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Bối cảnh Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ cuối năm 1940 vô cùng ngột ngạt. Thực dân Pháp, sau khi đầu hàng phát xít Nhật, đã trở nên điên cuồng và tàn bạo hơn bao giờ hết hòng siết chặt ách thống trị. Mạng lưới mật thám len lỏi vào từng ngõ ngách, từ những xóm lao động nghèo ở Bàn Cờ đến những đồn điền cao su bát ngát ở miền Đông.
Khi lệnh khởi nghĩa được phát ra, Phan Đăng Lưu đang trên đường từ miền Bắc vào Nam để truyền đạt những chỉ thị quan trọng của Trung ương. Thật không may, do sự phản bội của kẻ chỉ điểm, ông bị mật thám Pháp bắt giữ ngay tại Sài Gòn khi chưa kịp gặp gỡ các đồng chí trong Xứ ủy. Những ngày tháng trong khám lớn Sài Gòn là một chuỗi thử thách nghẹt thở. Kẻ thù biết ông là "linh hồn" của phong trào nên đã dùng mọi thủ đoạn tra tấn tàn khốc nhất. Chúng không chỉ hành hạ thể xác mà còn dùng những đòn tâm lý hiểm độc, hứa hẹn một vị trí cao trong bộ máy chính quyền thuộc địa nếu ông đồng ý từ bỏ con đường cách mạng.
Nhưng trước những họng súng và roi điện, Phan Đăng Lưu vẫn giữ một phong thái ung dung, tự tại. Ông dùng chính lý luận của mình để bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc của những tên thẩm phán Pháp. Trong ngục tối, ông vẫn tiếp tục làm thơ, viết báo để khích lệ tinh thần các bạn tù. Ánh mắt ông luôn rực sáng một niềm tin sắt đá rằng: "Cách mạng nhất định sẽ thành công, dẫu máu của những người tiền phong có phải đổ xuống".
Ngày 26 tháng 8 năm 1941, thực dân Pháp đưa Phan Đăng Lưu cùng các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần ra pháp trường Ngã Ba Giồng (Hóc Môn). Bầu trời hôm ấy u ám, gió rít qua những rặng tràm xơ xác. Đứng trước hàng súng của đội hành quyết, Phan Đăng Lưu vẫn hiên ngang đứng thẳng, từ chối bịt mắt. Ông muốn nhìn thấy quê hương lần cuối, muốn nhìn thẳng vào mắt những kẻ sát nhân để chúng thấy rằng: chúng có thể giết chết một con người, nhưng không bao giờ giết chết được một lý tưởng. Khi loạt đạn vang lên, Phan Đăng Lưu ngã xuống, nhưng tiếng vang của ông vẫn còn mãi trong lòng nhân dân Nam Bộ. Sự hy sinh của ông là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ sau, chứng minh rằng trí tuệ và khí tiết là vũ khí mạnh nhất của người chiến sĩ cộng sản.



