Phan Đăng Tài – Người trí thức yêu nước tận tâm vì dân, vì nước
Là em ruột nhà cách mạng Phan Đăng Lưu, Phan Đăng Tài sớm giác ngộ lý tưởng, âm thầm hoạt động cách mạng và dành nhiều tâm huyết giúp đỡ nhân dân. Từ những năm tháng làm việc trong chính quyền thuộc địa đến khi tham gia chính quyền cách mạng, ông luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm, trí tuệ và lòng yêu nước sâu sắc.

Phan Đăng Tài – Người trí thức yêu nước tận tâm vì dân, vì nước
Sinh ra trong một gia đình nhà Nho giàu truyền thống yêu nước tại thôn Đông, xã Tràng Thành, nay thuộc xã Yên Thành, tỉnh Nghệ An, Phan Đăng Tài là em ruột của nhà cách mạng Phan Đăng Lưu. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, ham học. Sau khi hoàn thành bậc tiểu học ở trường huyện, ông thi đỗ Trường Quốc học Vinh. Những sách báo tiến bộ do người anh Phan Đăng Lưu cung cấp đã giúp ông sớm tiếp cận tư tưởng yêu nước và phong trào cách mạng.
Năm 1928, sau khi tốt nghiệp bậc thành chung, Phan Đăng Tài trở về quê và tham gia Chi bộ Đảng Tân Việt do anh trai tổ chức. Ông từng cùng người anh Phan Đăng Triều dự định ra Hà Nội tiếp tục học tập, nhưng theo lời khuyên của Phan Đăng Lưu, hai người chọn đi làm để tránh sự theo dõi của chính quyền thực dân và tạo điều kiện hoạt động cho Đảng.
Phan Đăng Tài vào làm việc tại Tòa công sứ Thanh Hóa. Giữa năm 1929, khi Đảng Tân Việt bị đàn áp, ông bị bắt cùng nhiều đảng viên khác. Do không đủ chứng cứ, ông được thả nhưng bị buộc rời khỏi nơi cư trú và chuyển đến An Khê, Gia Lai. Năm 1932, ông tiếp tục được điều đến Tòa công sứ Pleiku. Trong những năm sống và làm việc ở Tây Nguyên, ông âm thầm hỗ trợ các cựu tù chính trị Buôn Ma Thuột bằng thuốc men, tiền bạc và giấy tờ cần thiết, giúp họ ổn định cuộc sống và tiếp tục hoạt động.
Năm 1934, nhờ sự giúp đỡ của một số người Pháp tiến bộ, Phan Đăng Tài chuyển về làm việc tại Tòa công sứ Hà Tĩnh. Tại đây, ông thường được các quan chức người Pháp nhờ hướng dẫn tiếng Việt và tìm hiểu văn hóa phương Đông. Đổi lại, ông có điều kiện tiếp cận nhiều sách báo bằng tiếng Pháp, tiếng Anh cùng các tài liệu về triết học, luật học, văn học và khoa học. Nhờ đó, vốn kiến thức của ông ngày càng được mở rộng.
Không chỉ trau dồi tri thức, Phan Đăng Tài còn tích cực hoạt động xã hội. Tham gia Liên hội Hướng đạo Đông Dương tại Hà Tĩnh, ông trở thành một thành viên năng nổ, nhiều lần đứng ra bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân. Ông từng giúp người dân Thạch Hà đấu tranh đòi lại hàng trăm mẫu ruộng bị cường hào chiếm đoạt và hỗ trợ người dân Nghi Xuân trong các vụ tranh chấp đất đai.
Năm 1945, khi nạn đói hoành hành, ông cùng các thành viên Liên hội Hướng đạo Đông Dương vận động tiền, gạo để cứu trợ người dân quanh thị xã Hà Tĩnh. Ông còn trực tiếp soạn các điện văn bằng tiếng Pháp giúp Tuần phủ Hà Tĩnh Nguyễn Khoa Nghi gửi vào Huế đề nghị cứu đói khẩn cấp. Chỉ ít ngày sau, 200 tấn gạo được chuyển về Hà Tĩnh. Với vai trò Phó hội trưởng Hội Cứu tế Hà Tĩnh, Phan Đăng Tài tiếp tục vận động cứu trợ, đồng thời viết lời kêu gọi gửi báo chí ở Hà Nội và Sài Gòn nhằm thu hút sự quan tâm đối với đồng bào đang lâm vào cảnh đói khổ.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng lâm thời tại Hà Tĩnh được thành lập. Phan Đăng Tài được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng và được cử làm Phó chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh Hà Tĩnh. Từ một người trí thức từng hoạt động âm thầm dưới chế độ cũ, ông bước vào công cuộc xây dựng chính quyền mới với tinh thần trách nhiệm cao.
Cuối năm 1949, ông đảm nhiệm chức Chánh văn phòng Liên khu 4. Với mong muốn nâng cao trình độ cán bộ, ông đề xuất và trực tiếp tổ chức các lớp văn hóa, tốc ký bằng chữ quốc ngữ. Từ những lớp học này, một số học viên có điều kiện tiếp tục trưởng thành và phục vụ cách mạng. Trong đó có ông Lưu Văn Xân, người từng làm quan tri huyện Yên Thành, sau được tuyển chọn ra Việt Bắc và trở thành thư ký phục vụ nhiều cuộc họp quan trọng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì.
Năm 1952, Phan Đăng Tài ra Việt Bắc công tác tại Bộ Nội vụ. Đến năm 1957, ông chuyển sang Báo Nhân Dân, giữ cương vị Trưởng phòng Tư liệu cho đến khi nghỉ hưu năm 1975.
Cuộc đời Phan Đăng Tài là hành trình của một người trí thức luôn tìm cách đem kiến thức, khả năng và uy tín của mình phục vụ nhân dân. Dù ở hoàn cảnh nào, từ những năm tháng làm việc trong bộ máy thuộc địa, hoạt động xã hội, cứu trợ đồng bào đến khi trực tiếp tham gia xây dựng chính quyền cách mạng, ông vẫn giữ tinh thần yêu nước, trọng nghĩa và tận tâm với công việc.
Tấm gương Phan Đăng Tài cho thấy lòng yêu nước không chỉ được thể hiện trên những trận tuyến lớn, mà còn hiện diện trong từng việc làm thiết thực cho nhân dân, trong việc truyền bá tri thức, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân và góp phần xây dựng đất nước bằng chính năng lực của mình.



