Bài viết

Phan Đình Giót – Biểu tượng quả cảm sáng ngời trong lịch sử dân tộc

Hà Tĩnh17/04/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Phan Đình Giót – Biểu tượng quả cảm sáng ngời trong lịch sử dân tộc

Phan Đình Giót sinh năm 1922 tại thôn Vĩnh Yên, xã Tam Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Sinh ra trong một gia đình nghèo, từ khi còn nhỏ anh đã phải sớm lao động cực nhọc, đi làm thuê để phụ giúp cuộc sống. Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, anh tham gia lực lượng tự vệ ở địa phương. Đến năm 1950, với lòng yêu nước nồng nàn, anh tình nguyện gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam, bắt đầu cuộc đời chiến sĩ cách mạng.

Trong quân ngũ, Phan Đình Giót luôn nổi bật bởi tinh thần tự giác, ý thức tổ chức kỷ luật và lối sống giản dị. Anh sẵn sàng nhận về mình những phần việc khó khăn, luôn giúp đỡ đồng đội và nhường thuận lợi cho người khác. Chính vì vậy, anh được đồng chí, đồng đội hết sức yêu quý và tin tưởng.

Trong suốt quá trình chiến đấu, anh đã tham gia nhiều chiến dịch lớn như Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc và đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ở bất cứ nơi đâu, anh cũng thể hiện tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Dù nhiều lần bị thương nặng, anh vẫn không rời trận địa mà tiếp tục chiến đấu.

Chỉ ba tháng sau khi nhập ngũ, anh đã góp mặt trong trận đánh đồn Tràng Bạch trên Đường 18. Sau khi cùng đơn vị tiêu diệt lô cốt đầu tiên, anh bị thương nặng. Tuy nhiên, dù cấp trên yêu cầu lui về phía sau điều trị, anh vẫn xin ở lại sát cánh cùng đồng đội cho đến khi trận đánh kết thúc.

Cuối năm 1950, trong trận tiến công cứ điểm Chùa Tiếng, đơn vị gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ cắt hàng rào và đào công sự bí mật. Địch phát hiện và lập tức nổ súng dữ dội, đồng thời gọi pháo chi viện. Trong tình thế ấy, Phan Đình Giót dũng cảm bò lên gần lô cốt số một, đặt bộc phá phá cửa mở đường rồi ném lựu đạn tiêu diệt toàn bộ quân địch bên trong, góp phần quan trọng vào thắng lợi của đơn vị.

Bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ, anh cùng đồng đội hành quân gần 500 km qua nhiều đèo cao, núi dốc hiểm trở, mang theo vũ khí và quân trang nặng nề. Dù đôi chân nứt nẻ, rớm máu và đau buốt, anh vẫn kiên trì tiến bước. Trong đời sống thường ngày, anh luôn quan tâm chăm sóc đồng chí, lo từng bữa ăn, giấc ngủ và chân thành góp ý để mọi người cùng tiến bộ. Vì thế, đồng đội trìu mến gọi anh là “anh cả”.

Chiều ngày 13-3-1954, đơn vị của Phan Đình Giót nhận nhiệm vụ tiến công cứ điểm Him Lam – trận đánh mở màn của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ 15 giờ, Đại đội 58 triển khai đội hình chiến đấu. Những bức thư của Bác Hồ cùng mệnh lệnh động viên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được truyền tay nhau, tiếp thêm niềm tin và quyết tâm chiến thắng cho toàn đơn vị. Khi pháo lệnh vang lên, quân ta đồng loạt xung phong dưới sự chi viện mạnh mẽ của pháo binh và pháo cao xạ.

Trong đợt tiến công ác liệt, các chiến sĩ liên tiếp dùng bộc phá mở đường tiến lên. Đến quả thứ chín, Phan Đình Giót bị thương ở đùi nhưng vẫn không rời vị trí. Hỏa lực địch bắn xuống dồn dập khiến nhiều đồng đội thương vong. Anh thay mặt chỉ huy trung đội ở hướng tiến công chính, dùng quả lựu đạn cuối cùng đánh vào hỏa điểm địch. Khi quân ta vừa xông lên, hỏa điểm ấy lại tiếp tục hoạt động. Anh liền dùng tiểu liên bắn thẳng vào lô cốt và bị thương thêm ở vai, ngất đi vì mất máu.

Khi tỉnh lại, thấy đồng đội vẫn bị chặn trước làn đạn địch, cán bộ trung đội đã hy sinh hoặc bị thương hết, anh lập tức đứng ra chỉ huy. Nhiều chiến sĩ nối tiếp nhau xông lên tiêu diệt hỏa điểm nhưng đều ngã xuống. Trước tình thế khẩn cấp, Phan Đình Giót bò sát mặt đất, từng bước áp sát lỗ châu mai với quyết tâm phải dập tắt ổ súng địch. Anh liên tiếp nổ súng vào đó, nhưng hỏa lực đối phương vẫn chống trả quyết liệt.

Dồn toàn bộ sức lực cuối cùng, anh hô vang: “Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân!”, rồi lao người lấy thân mình lấp kín lỗ châu mai. Hỏa điểm mạnh nhất của quân Pháp bị vô hiệu hóa. Chớp lấy thời cơ ấy, quân ta đồng loạt xung phong, tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Him Lam, giành thắng lợi vang dội trong trận đánh mở màn lịch sử.

Phan Đình Giót anh dũng hy sinh lúc 22 giờ 30 phút ngày 13-3-1954. Ngày 31-3-1955, anh được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Khi hy sinh, anh là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312; là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và được trao tặng Huân chương Quân công hạng Nhì.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn