PHAN ĐÌNH GIÓT: LÁ THƯ VỀ QUÊ SAU TRẬN HIM LAM
Trước trận đánh Him Lam tháng 3 năm 1954, Phan Đình Giót nhờ một người đồng hương viết giúp lá thư gửi về nhà. Người lính quê Hà Tĩnh đã không thể tự tay viết những dòng ấy. Ngày hôm sau, anh hy sinh khi lấy thân mình chặn hỏa lực trong lô cốt địch. Bức thư không đến ngay với gia đình mà nằm trong ba lô của người mang thư đến cuối năm 1955. Một kỷ vật đến muộn nối chiến thắng lịch sử với nỗi đợi chờ thầm lặng nơi hậu phương.


Lá thư của Phan Đình Giót không về đến nhà trong mùa xuân năm 1954. Nó nằm trong ba lô của một người đồng hương, đi qua những tháng chiến tranh còn tiếp diễn. Đến cuối năm 1955, người giữ thư mới tìm về Cẩm Quan để trao cho vợ anh. Câu chuyện được Báo Quân đội nhân dân ghi lại từ lời kể của một cựu chiến binh. Trong một chiến thắng nổi tiếng vì những trận đánh ác liệt, lá thư đến muộn ấy làm hiện lên người lính có gia đình, có điều muốn nhắn gửi.
Phan Đình Giót sinh năm 1922 ở làng Vĩnh Yên, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Gia đình nghèo, cha mất sớm, anh phải đi ở và làm thuê từ khi còn nhỏ. Sau Cách mạng Tháng Tám, anh tham gia tự vệ; năm 1950 xung phong vào bộ đội chủ lực.
Trong đơn vị, Giót được nhớ đến không chỉ bởi sức chiến đấu. Theo tư liệu của Báo Quân đội nhân dân, anh quan tâm chuyện ăn ngủ, chia sẻ khó khăn và khuyên nhủ đồng đội khi có thiếu sót. Những người lính gọi anh bằng cách xưng hô gần gũi như một người anh.
Mùa đông 1953, đơn vị chuẩn bị tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bộ đội hành quân hàng trăm cây số qua núi rừng, mang theo súng đạn, lương thực và trang bị. Khi vào gần tập đoàn cứ điểm, công việc đào hào, mở đường tiếp cận, trinh sát hỏa điểm diễn ra trong điều kiện đối phương kiểm soát nhiều vị trí có lợi. Bên kia chiến hào là những lô cốt có thể khống chế lối vào. Việc tiến từng đoạn đất đã phải đổi bằng mồ hôi và thương vong.
Theo hồi ức đăng năm 2010, trước trận Him Lam ít ngày, Phan Đình Giót gặp một người lính đồng hương Hà Tĩnh. Biết người ấy có thể có dịp chuyển thư về quê, anh muốn nhờ gửi lời tới nhà. Nhưng Giót không có sẵn giấy bút, và khi được đưa giấy bút lại cần người khác viết giúp. Anh đọc, người đồng hương viết. Không có căn cứ để dựng lại những dòng thư thành lời văn mới; điều tư liệu xác nhận là đã có một lá thư được viết hộ trong chiến hào.
Ngày 13 tháng 3 năm 1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức mở màn bằng trận tiến công cụm cứ điểm Him Lam. Đại đoàn 312 nhận nhiệm vụ quan trọng trong đợt đầu. Sau hỏa lực chuẩn bị, bộ binh tiến qua những lớp hàng rào và công sự. Đại liên trong các lô cốt liên tục bắn chặn đường xung phong. Trước mắt các chiến sĩ không phải một mục tiêu vô danh trên bản đồ, mà là một cửa mở nơi mỗi người phải cố vượt qua dưới làn đạn.
Phan Đình Giót ở đội hình xung kích của Trung đoàn 141. Tư liệu Thông tấn xã Việt Nam, cơ quan văn hóa Điện Biên và các hồi ức của quân đội thống nhất rằng anh bị thương nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Anh tham gia dùng bộc phá, lựu đạn và súng để đánh các hỏa điểm. Khi một lô cốt vẫn bắn dữ dội khiến đồng đội không thể tiến lên, Giót trườn tới gần. Vết thương không buộc anh rời khỏi nhiệm vụ trong thời khắc cuộc tiến công đang bị chặn lại.
Anh lấy thân mình lấp lỗ châu mai của lô cốt địch. Hỏa điểm ngừng bắn trong khoảng thời gian quyết định, tạo cơ hội để đồng đội tràn lên đánh chiếm vị trí. Phan Đình Giót hy sinh trong trận mở màn. Hành động ấy được ghi nhớ cùng chiến thắng Him Lam, nhưng kể lại nó bằng sự chính xác cũng là nhìn thấy cái giá thật: một người lính đã không thể đi tiếp cùng những đồng đội mà anh vừa mở đường cho họ.
Ngay đêm ấy, chiến thắng ở Him Lam đã có ý nghĩa lớn đối với tinh thần toàn mặt trận. Nhưng tin thắng trận không mang lại cho gia đình Phan Đình Giót cơ hội đoàn tụ. Ở quê, người thân còn sống với những ngày chờ tin. Lá thư trong ba lô người đồng hương trở thành lời nhắn chưa tới nơi. Người viết hộ tiếp tục hành quân, giữ lại tờ giấy qua nhiều chặng đường, đến khi có thể tìm đúng người cần nhận.
Cuối năm 1955, lá thư được trao lại cho vợ Phan Đình Giót ở Cẩm Quan. Người đọc hôm nay không biết toàn bộ nội dung thư từ bản tư liệu đã công bố, và càng không nên đặt thêm lời vào đó. Chỉ riêng việc một chiến sĩ không biết tự viết thư, phải nhờ đồng đội ghi hộ, rồi lá thư vượt qua chiến tranh muộn hơn cả tin anh hy sinh, đã đủ sức nặng. Nó cho thấy khoảng cách giữa thời gian của chiến trường và thời gian của người chờ đợi.
Tại các đợt trưng bày về Chiến dịch Điện Biên Phủ, khẩu súng tiểu liên Sten được giới thiệu là hiện vật của Phan Đình Giót trong trận Him Lam. Khẩu súng nhắc đến nhiệm vụ chiến đấu; lá thư nhắc đến mái nhà ở Vĩnh Yên. Hai dấu tích đặt cạnh nhau giúp người sau hiểu vì sao chiến thắng không thể chỉ được kể bằng bản đồ và con số. Phía sau hỏa điểm đã im tiếng súng là một con người từng muốn gửi vài dòng về quê, trước khi ngày 13 tháng 3 khép lại cuộc đời mình.



