Phan Đình Giót – Tấm gương anh hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam

Phan Đình Giót sinh năm 1922 ở thôn Vĩnh Yên, xã Tam Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Lớn lên trong hoàn cảnh gia đình nghèo túng, từ nhỏ anh đã phải đi làm thuê, làm mướn để kiếm sống. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, anh tham gia lực lượng tự vệ tại địa phương. Đến năm 1950, mang trong mình lòng yêu nước sâu sắc, anh xung phong đứng vào hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong thời gian phục vụ trong quân đội, Phan Đình Giót luôn là tấm gương sáng về tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật. Anh sống giản dị, chân thành, luôn nhận phần khó khăn về mình, sẵn sàng giúp đỡ đồng đội và nhường điều thuận lợi cho người khác. Bởi vậy, anh luôn được đồng chí, đồng đội quý mến và tin tưởng.
Trên chặng đường chiến đấu, anh đã góp mặt trong nhiều chiến dịch quan trọng như Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc và đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ. Dù ở bất cứ chiến trường nào, anh cũng thể hiện ý chí kiên cường, lòng quả cảm và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Mặc dù từng nhiều lần bị thương nặng, anh vẫn tiếp tục bám trụ chiến đấu.
Chỉ ba tháng sau ngày nhập ngũ, Phan Đình Giót tham gia trận đánh đồn Tràng Bạch trên Đường 18. Trong trận chiến ác liệt ấy, sau khi tiêu diệt được lô cốt đầu tiên, anh bị thương nặng. Tuy nhiên, dù được lệnh rút lui về tuyến sau, anh vẫn xin ở lại cùng đơn vị chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc.
Cuối năm 1950, trong trận tiến công cứ điểm Chùa Tiếng, đơn vị của anh gặp nhiều trở ngại khi thực hiện nhiệm vụ cắt rào và đào công sự bí mật. Địch phát hiện, nổ súng dữ dội và gọi pháo chi viện. Trước tình thế cam go, Phan Đình Giót dũng cảm bò lên sát lô cốt số một, đặt bộc phá phá cửa mở đường rồi ném lựu đạn tiêu diệt toàn bộ quân địch bên trong, góp phần giúp đơn vị giành thắng lợi.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, anh cùng đồng đội hành quân gần 500 km qua nhiều núi cao, đèo dốc hiểm trở, mang vác nặng nề. Chân nứt nẻ, rớm máu, đau buốt nhưng anh vẫn kiên trì tiến bước. Không chỉ anh dũng nơi chiến trường, trong sinh hoạt hằng ngày anh còn luôn quan tâm, chăm sóc đồng chí từ bữa ăn đến giấc ngủ, nhẹ nhàng góp ý để mọi người cùng tiến bộ. Vì thế, anh được đồng đội trìu mến gọi là “anh cả”.
Chiều ngày 13-3-1954, đơn vị của Phan Đình Giót nhận lệnh tiến công cứ điểm Him Lam, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ 15 giờ, Đại đội 58 bước vào vị trí chiến đấu. Những lá thư của Bác Hồ cùng mệnh lệnh động viên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được truyền tay nhau, tiếp thêm khí thế quyết thắng cho toàn đơn vị. Khi pháo lệnh nổ vang, quân ta đồng loạt xung phong dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của pháo binh và pháo cao xạ.
Trong đợt tiến công quyết liệt ấy, các chiến sĩ liên tiếp dùng bộc phá mở đường. Đến quả thứ chín, Phan Đình Giót bị thương ở đùi nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Hỏa lực địch trút xuống dày đặc khiến nhiều đồng đội bị thương vong. Anh thay mặt chỉ huy trung đội ở mũi tiến công trung tâm, dùng quả lựu đạn cuối cùng đánh vào hỏa điểm địch. Khi quân ta vừa xông lên, hỏa điểm ấy lại tiếp tục nhả đạn. Anh liền dùng tiểu liên bắn thẳng vào lô cốt và tiếp tục bị thương nặng ở vai, ngất đi vì mất máu.
Khi tỉnh lại, thấy đồng đội vẫn bị chặn lại phía trước, cán bộ trung đội đã hy sinh hoặc bị thương hết, anh lập tức đứng ra chỉ huy. Nhiều chiến sĩ lần lượt xông lên tiêu diệt hỏa điểm nhưng đều ngã xuống. Trước tình thế vô cùng khẩn cấp, Phan Đình Giót bò sát mặt đất, từng bước tiến gần lỗ châu mai với quyết tâm phải dập tắt ổ súng địch. Anh liên tiếp dùng tiểu liên bắn vào đó, song hỏa lực đối phương vẫn chống trả dữ dội.
Dồn hết sức lực cuối cùng, anh hô vang: “Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân!”, rồi lao người lấy thân mình lấp kín lỗ châu mai. Hỏa điểm nguy hiểm nhất của quân Pháp bị vô hiệu hóa. Chớp thời cơ ấy, đơn vị ta đồng loạt xung phong, tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Him Lam, giành thắng lợi vang dội trong trận đánh mở màn lịch sử.
Phan Đình Giót anh dũng hy sinh lúc 22 giờ 30 phút ngày 13-3-1954. Ngày 31-3-1955, anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Khi hy sinh, anh là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312; là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và được trao tặng Huân chương Quân công hạng Nhì.



