Phan Đình Giót - Tấm ngực thanh xuân lấp lửa quân thù
Phan Đình Giót là Chiến sĩ xung kích xuất thân nghèo khó ở Hà Tĩnh. Trong trận mở màn Điện Biên Phủ đêm 13/3/1954, anh cũng đồng đội đã đánh liên tiếp nhiều quả bộc phá phá hàng rào, bị thương hai lần, và cuối cùng dùng chính thân mình lấp kín lỗ châu mai để dập tắt hỏa điểm địch, mở đường cho đơn vị xông lên tiêu diệt cứ điểm Him Lam.

Qua lăng kính của thời gian, lịch sử không chỉ là những con số hay những mũi tên vạch trên bản đồ chiến dịch. Lịch sử là máu, là nước mắt, là tình yêu nước thương nòi được thắp lên từ những con người bình dị nhất. Đọc lại những dòng sử liệu về anh hùng Phan Đình Giót, âm hưởng hào hùng của chiến thắng Điện Biên Phủ dường như nhường chỗ cho một niềm xúc động nghẹn ngào…
Sinh năm 1922 tại thôn Vĩnh Yên, xã Tam Quan, vùng quê nghèo Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), tuổi thơ của Phan Đình Giót là những chuỗi ngày oằn mình trong cái đói nghèo, cơ cực. Mười ba tuổi - cái tuổi đáng lẽ phải được đến trường, cậu bé Giót đã phải đi ở đợ, làm thuê, nếm trải đủ mọi cay đắng tủi nhục của kiếp người dưới ách thực dân phong kiến. Có lẽ chính từ tận cùng nỗi khổ đau ấy, ngọn lửa khát khao tự do đã âm ỉ cháy trong lòng anh. Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, anh như con chim sổ lồng, hăng hái tham gia tự vệ, và đến năm 1950 thì chính thức khoác lên mình màu xanh áo lính.
Nếu trên chiến trường, Phan Đình Giót là một mũi xung kích quả cảm, thì trong cuộc sống thường nhật, anh là một người “anh cả” hiền từ, bao dung đến lạ. Lớn lên từ nghèo khó nên anh thấu hiểu từng nỗi nhọc nhằn của đồng đội. Anh giành lấy mọi phần việc nặng nhọc, hiểm nguy, nhường lại chút thuận lợi, bình yên cho anh em. Những đêm hành quân sương lạnh, người ta thấy anh đi tuần tra cẩn thận, đắp lại tấm chăn cho đồng chí, lo cho họ từ giấc ngủ đến bát canh. Khi có người mắc khuyết điểm, không bằng những lời trách mắng nặng nề, anh nhỏ nhẹ khuyên nhủ, phân tích thấu tình đạt lý khiến ai nấy đều rưng rưng cảm động và nể phục.
Khí chất anh hùng của Phan Đình Giót không phải đợi đến Điện Biên Phủ mới tỏa sáng. Ngay từ những ngày đầu tòng quân, mới ba tháng tuổi lính, trong trận đánh đồn Tràng Bạch trên Đường 18, anh đã nén vết thương nặng, kiên quyết không lùi về tuyến sau để bám trụ chiến đấu đến phút cuối cùng. Cuối năm 1950, tại cứ điểm Chùa Tiếng, khi mặt đất rắn vỡ ra làm lộ bí mật, pháo địch dội tới tấp, anh vẫn bình tĩnh trườn lên giữa làn đạn, ôm bộc phá đánh sập lô cốt số một rồi tung lựu đạn tiêu diệt gọn quân thù, mở đường cho đơn vị xốc tới.
Và rồi, lịch sử gọi tên anh trong khúc tráng ca Điện Biên Phủ.
Bước vào trận quyết chiến, Phan Đình Giót cùng Đại đội 58, Tiểu đoàn 428 (Trung đoàn 141, Đại đoàn 312) đã phải vượt qua gần 500 kilomet hành quân đèo dốc vút ngàn. Gánh trên vai sức nặng của vũ khí đạn dược, đôi bàn chân người lính bầm dập, nứt nẻ và tứa máu sau những đêm hành quân trượt ngã. Đau buốt thấu xương, nhưng anh vẫn cắn răng bước tiếp, vẫn không quên mỉm cười động viên đồng đội.
Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, trận đánh mở màn nhắm vào cứ điểm Him Lam bắt đầu. Bức thư động viên của Bác Hồ và mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được truyền tay nhau đọc giữa chiến hào. 15 giờ, pháo binh và pháo cao xạ của ta gầm vang, rung chuyển đất trời Điện Biên. Khí thế hào hùng sục sôi trong lồng ngực mỗi người lính.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Các chiến sĩ Đại đội 58 lao lên mở cửa mở. Khi quả bộc phá thứ tám vừa nổ, Phan Đình Giót ôm quả thứ chín xông lên. Đất đá tung tóe, một mảnh đạn găm phập vào đùi anh. Máu túa ra, nhưng người Tiểu đội phó ấy không lùi bước, anh tiếp tục giành lấy quả bộc phá tiếp theo. Hỏa lực từ đồn Pháp trút xuống như một trận mưa rào tử thần, đội hình ta thương vong vô số. Cán bộ chỉ huy trung đội cánh giữa hy sinh, Phan Đình Giót lập tức đứng ra thay thế, gánh vác trách nhiệm chỉ huy.
Phát hiện một hỏa điểm địch đang điên cuồng nhả đạn cản đường tiến của đồng đội, anh vung quả lựu đạn cuối cùng. Tiếng súng địch vừa ngưng, xung kích ta chồm dậy vọt tiến thì hỏa điểm lại phục hồi. Giữa lằn ranh sinh tử, anh đưa tiểu liên vào tận lô cốt siết một băng đạn dài. Chớp lửa lóe lên, anh trúng đạn lần thứ ba vào vai. Máu chảy đầm đìa ướt đẫm tấm áo trấn thủ, anh ngất lịm đi.
Nhưng dường như tiếng thét xung phong của đồng đội, tiếng rên rỉ của những người anh em gục ngã đã níu anh lại với sự sống. Anh bừng tỉnh. Đập vào mắt anh lúc ấy là cảnh tượng đau xót: hỏa điểm của địch từ một lỗ châu mai bí mật lại bất ngờ khạc đạn xanh lè, hai chiến sĩ ta vừa ôm trung liên xông lên dập tắt hỏa điểm đã lập tức trúng đạn ngã xuống. Lực lượng xung kích bị ùn lại trước cửa tử. Tình thế ngàn cân treo sợi tóc.
Đôi mắt người lính trẻ trừng trừng hằn lên những tia đỏ rực, nhìn xoáy vào cái lỗ châu mai ác nghiệt ấy. Cán bộ trung đội đã thương vong hết, những người anh em của anh không thể đổ máu thêm nữa! Quên đi vết thương đang cày nát da thịt, Phan Đình Giót ép sát người xuống mặt đất lạnh, nhích từng chút, từng chút một tiến về phía lô cốt địch. Anh nâng khẩu tiểu liên, nhả những viên đạn cuối cùng vào lỗ châu mai. Hết đạn, anh thay băng khác bắn tiếp. Nhưng hỏa lực của bọn địch phòng ngự trong boong-ke quá mạnh, đạn vẫn xối xả réo qua mang tai.
Trong khoảnh khắc ấy, giữa khói bom mù mịt, đồng đội thấy anh lảo đảo đứng lên rồi lại ngồi xuống bên lỗ châu mai. Vắt kiệt chút sức tàn cuối cùng, anh dõng dạc thét lên, tiếng thét xé toạc màn đêm Điện Biên: “Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân!” rồi rướn cao người, lấy đà, hai tay anh bám chặt vào thân cây gỗ phía trên lỗ châu mai. Anh xoay người thật nhanh, đem trọn vầng ngực thanh xuân và trái tim sục sôi bầu máu nóng của mình áp chặt, bít kín lỗ châu mai địch. Tiếng súng đại liên đang gầm rít bỗng chốc im bặt. Vầng ngực của anh đã trở thành bức tường đồng thành sắt. Trái tim anh ngừng đập để nhịp chân của hàng trăm đồng đội được ào ạt xông lên. Quân ta như thác lũ tràn vào, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam, giành lấy chiến thắng lẫy lừng trong trận mở màn chiến dịch.
Đồng hồ điểm 22 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954. Chàng trai Cẩm Xuyên nghèo khó thuở nào đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 32, mang theo hàm Tiểu đội phó và danh hiệu cao quý của một người Đảng viên kiên trung. Năm 1955, Đảng và Nhà nước truy tặng anh danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cùng Huân chương Quân công hạng Nhì.
Lịch sử dân tộc ta có những tượng đài được tạc bằng đá xanh, bằng đồng đen, nhưng bức tượng đài mang tên Phan Đình Giót được tạc bằng chính xương thịt, bằng máu và lòng vị tha vĩ đại. Hơn bảy mươi năm đã trôi qua, vết thương chiến tranh đã liền sẹo, mầm xanh đã mọc trên đồi Him Lam, nhưng mỗi lần đọc lại những dòng sử này, ta vẫn nghe khóe mắt mình cay cay. Đất nước nhớ thương anh - người anh cả hiền từ của Đại đội 58, và mãi mãi tự hào về khoảnh khắc anh hóa thân thành bất tử, hiến dâng giọt máu cuối cùng cho dáng hình Tổ quốc hôm nay.



