Phan Đình Phùng - Kẻ Thù Bó Tay, Sơn Hà Khắc Mệnh
Nguyễn Hà Thu
Trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, Đình nguyên Tiến sĩ Phan Đình Phùng (1847 – 1895) hiện lên như một tấm gương sáng ngời về chí khí sĩ phu, sự kiên trung bất khuất và tấm lòng tận trung với dân, với nước. Ông không chỉ là nhà trí thức Nho học uyên bác mà còn là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Hương Khê—cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất, kéo dài nhất và đỉnh cao nhất của phong trào Cần Vương.
Xuất thân trong một gia đình khoa bảng tại làng Đông Thái, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, Phan Đình Phùng sớm đỗ Đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ cập thứ (Đình nguyên) và làm quan đến chức Ngự sử triều Nguyễn. Với bản tính liêm chính, thẳng thắn, ông từng dám dèm tấu phản đối việc phế lập bất minh của các quyền thần, chấp nhận bị bãi chức về quê. Thế nhưng, khi vua Hàm Nghi xuất chiếu Cần Vương kêu gọi cứu nước vào năm 1885, ông không hề do dự mà lập tức dấy binh, đứng lên chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp.
Dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng cùng trợ thủ đắc lực là tướng quân Cao Thắng, cuộc khởi nghĩa Hương Khê đã xây dựng được hệ thống căn cứ hiểm trở trải dài khắp bốn tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Bằng tri thức sâu rộng và tầm nhìn tổ chức vượt thời đại, ông không chỉ phát huy chiến thuật chiến tranh du kích dựa vào địa hình núi rừng hiểm trở mà còn chỉ đạo nghiên cứu, sản xuất thành công súng trường kiểu Pháp—một kỳ tích quân sự của Việt Nam thời bấy giờ. Những trận đánh vang dội như đồn Vu Quang hay trận Vụ Quang đã khiến quân thù nhiều đợt khiếp vía, chịu thiệt hại nặng nề.
Kẻ thù đã dùng mọi thủ đoạn hèn hạ nhất để khuất phục ông: quật mồ mả tổ tiên, bắt bớ người thân và dùng chức quyền, quan lộc để dụ dỗ. Khi tên tay sai Hoàng Cao Khải viết thư khuyên ông hàng để giữ lấy gia tộc, Phan Đình Phùng đã đáp lại bằng câu nói bất hủ, thể hiện trọn vẹn khí tiết của bậc đại nhân: "Nay tôi đốm lửa treo xót xa, chỉ có một đường chết. Nếu làng xóm tổ tiên tôi có bị tàn phá thì cũng là cái số vậy, há riêng gì gia đình tôi!". Đối với ông, nỗi đau của đất nước, của hàng triệu nhân dân lầm than vượt lên trên mọi tình cảm cá nhân và dòng họ.
Cuối năm 1895, trong một trận chiến ác liệt tại căn cứ Núi Quạt, Phan Đình Phùng bị thương nặng và lâm bệnh rồi qua đời vào ngày 28 tháng 12 năm 1895. Sự ra đi của ông đã khép lại một chương sử Cần Vương bi hãi nhưng vô cùng lẫm liệt. Phan Đình Phùng ngã xuống, nhưng nhân cách cao hại, khí tiết sĩ phu cùng bài thơ Cáo vĩ ông để lại trước lúc đi xa mãi mãi là ngọn lửa soi sáng tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam qua mọi thời đại.



