Phan Đình Phùng: Ý chí thép của đấng trượng phu nước Việt
Sinh ra tại làng Đông Thái, Hà Tĩnh, trong một dòng họ Nho học danh giá có mười hai đời liên tiếp đỗ đạt làm quan, thế nhưng ít ai biết rằng con đường học vấn thuở thiếu thời của Phan Đình Phùng lại vô cùng gian nan. Khác với mong đợi về một thần đồng, cậu bé Phùng lúc nhỏ có tướng mạo không mấy đẹp đẽ và tư chất bị xem là đần độn, tối tăm, đến nỗi thầy dạy còn ngao ngán tiên đoán cậu sau này sẽ chẳng thể làm nên trò trống gì. Tuy nhiên, với tính khí tự tôn và chí khí phi thường, ông không cam chịu thua kém các anh em trong gia đình.

Phan Đình Phùng: Ý chí thép của đấng trượng phu nước Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang
Hà Tĩnh24/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh ra tại làng Đông Thái, Hà Tĩnh, trong một dòng họ Nho học danh giá có mười hai đời liên tiếp đỗ đạt làm quan, thế nhưng ít ai biết rằng con đường học vấn thuở thiếu thời của Phan Đình Phùng lại vô cùng gian nan. Khác với mong đợi về một thần đồng, cậu bé Phùng lúc nhỏ có tướng mạo không mấy đẹp đẽ và tư chất bị xem là đần độn, tối tăm, đến nỗi thầy dạy còn ngao ngán tiên đoán cậu sau này sẽ chẳng thể làm nên trò trống gì. Tuy nhiên, với tính khí tự tôn và chí khí phi thường, ông không cam chịu thua kém các anh em trong gia đình. Năm 21 tuổi, khi bị người bác từ chối cho đi thi Hương vì học lực còn yếu, Phan Đình Phùng đã uất ức đến mức liều mình uống thuốc độc tự tử để minh chứng cho khát vọng học tập của bản thân. May mắn được cứu sống, ông lao vào khổ luyện ròng rã suốt nhiều năm trời, chân không bước ra đường, tay không rời cuốn sách. Sự cần cù bù thông minh ấy đã đem lại quả ngọt rực rỡ: ông đỗ Cử nhân năm 1876 và xuất sắc giành danh hiệu Đình nguyên Tiến sĩ vào năm sau (1877), hoàn thành trọn vẹn lời thề chiếm giải khôi nguyên thuở nào.
Khi bước vào chốn quan trường, Phan Đình Phùng nhanh chóng nổi tiếng khắp triều đình nhờ sự thanh liêm và cương trực sắt đá. Lúc làm Tri huyện Yên Khánh, ông không ngần ngại bắt giữ và đánh thẳng tay một vị linh mục lộng quyền ỷ thế Pháp để ức hiếp dân lành, chấp nhận việc bị triều đình giáng chức. Được đưa về kinh giữ chức Ngự sử tại Đô sát viện, ông tiếp tục dâng sớ vạch trần thói hư danh, lộng hành của quan Kinh lược Bắc Kỳ Nguyễn Chính khiến người này bị bãi chức. Đỉnh điểm của sự can trường là khi vua Tự Đức băng hà, ông đã dũng cảm công khai phản đối việc tự ý phế lập hoàng đế của đại thần Tôn Thất Thuyết, dù hậu quả là ông bị tước hết mũ áo, tống giam rồi bị đuổi về quê nhà.
Thế nhưng, khi kinh thành Huế thất thủ năm 1885 và vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương kêu gọi cứu nước, Phan Đình Phùng đã gạt bỏ mọi hiềm khích triều chính xưa cũ để đứng lên hưởng ứng. Được phong làm Tán lý Quân vụ thống suất các đạo nghĩa binh, ông lập đại bản doanh trên núi Vũ Quang và cùng người trợ thủ đắc lực Cao Thắng xây dựng một lực lượng kháng chiến vô cùng quy củ. Nghĩa quân Hương Khê được rèn luyện kỷ luật nghiêm minh, trang bị quân phục chỉnh tề và tự tay chế tạo thành công hàng trăm khẩu súng trường sao chép từ vũ khí của Pháp.
Hiểu rõ uy thế của nghĩa quân, thực dân Pháp và tay sai đã dùng mọi thủ đoạn hòng dụ dỗ ông quy hàng. Nguyễn Chính, lúc bấy giờ đã đầu hàng Pháp và làm Tổng đốc Nghệ An, đã bắt giữ anh trai ông là Phan Đình Thông để làm con tin. Chúng ép buộc các quan lại bản xứ viết thư khuyên hàng, lấy tình cốt nhục và sự giày xéo mồ mả tổ tiên ra để uy hiếp. Trước thử thách tột cùng giữa tình nhà và nợ nước, Phan Đình Phùng đã khảng khái đáp lời bằng câu nói lưu danh sử sách:
“Tôi từ khi cùng chư Tướng khởi binh Cần Vương, đã có chủ tâm là bỏ cả việc gia đình quê quán ra ngoài, không nghĩ gì đến nữa. Nay tôi chỉ việc có một ngôi mộ rất to, nên giữ, là đất nước Việt Nam; tôi chỉ có một ông anh rất to, đang bị nguy vong, là mấy mươi triệu đồng bào.”.
Lòng trung nghĩa của ông cao cả tới mức ông lạnh lùng nhắn lại kẻ chiêu hàng: “Nếu có ai làm thịt anh ta, thì nhớ gửi cho ta bát nước canh”.
Suốt một thập kỷ gian khổ (1885-1895), Phan Đình Phùng kiên cường lãnh đạo nghĩa quân đẩy lui nhiều đợt càn quét, gây cho quân Pháp những tổn thất nặng nề, tiêu biểu là trận thắng lớn tại Vụ Quang vào năm 1894. Dù trợ thủ Cao Thắng hy sinh vào cuối năm 1893, nghĩa quân bị bít đường tiếp vận vũ khí, lương thực, quân số ngày một hao hụt, ông vẫn giữ vững ngọn cờ kháng chiến đến hơi thở cuối cùng. Trước vòng vây siết chặt của gần 3.000 quân do Nguyễn Thân cầm đầu, Phan Đình Phùng đã bị thương nặng trong một trận giao chiến ác liệt và anh dũng hy sinh vào ngày 28 tháng 12 năm 1895.
Sự hy sinh của vị chủ tướng kiệt xuất đánh dấu đỉnh cao và cũng là khúc vĩ thanh đầy bi tráng của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19. Câu chuyện về cuộc đời Phan Đình Phùng không chỉ là tấm gương sáng ngời về sự kiên chí khổ luyện vượt lên nghịch cảnh, mà còn là biểu tượng bất tử của tinh thần ái quốc, thà hy sinh tất cả chứ quyết không làm nô lệ cho ngoại bang.



