Bài viết

PHAN HÀNH SƠN – TỪ NGƯỜI LÍNH 18 TUỔI ĐẾN “NGỌN CỜ ĐẦU XUNG KÍCH” QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG

Anh hùng LLVTND Phan Hành Sơn (sinh năm 1947), quê xã Hòa Quý, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 22/2/1965. Từ một chiến sĩ trẻ, ông trưởng thành nhanh qua các cương vị tiểu đội phó, tiểu đội trưởng, trung đội trưởng rồi đại đội trưởng. Trong 4 năm chiến đấu, Phan Hành Sơn được ghi nhận trực tiếp loại khỏi vòng chiến đấu 452 đối phương, trong đó có 143 lính Mỹ, bắn rơi 1 máy bay bằng súng bộ binh, phá hủy nhiều phương tiện và công sự. Riêng trong năm 1968, ông tham gia nhiều trận tại Trung Lương, Cồn Dầu, Non Nước và được tuyên dương là “ngọn cờ đầu xung kích của mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng”. Ngày 20/12/1969, Phan Hành Sơn được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Vĩnh Long22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1965, Phan Hành Sơn mới 18 tuổi.

Bốn năm sau, ông đã là đại đội trưởng.

Bốn năm ấy là một hành trình trưởng thành rất nhanh trên chiến trường:

1965 – tiểu đội phó.
1966 – tiểu đội trưởng.
1967 – trung đội trưởng.
1968 – đại đội trưởng.

Không phải trưởng thành bằng thời gian đơn thuần.

Mà bằng những trận đánh liên tiếp, bằng khả năng chỉ huy trong tình huống khó khăn và bằng một tinh thần mà tài liệu tuyên dương nhiều lần nhấn mạnh:

luôn tiến công, luôn có mặt ở mũi nhọn ác liệt.

Người thanh niên Hòa Quý

Phan Hành Sơn sinh năm 1947, quê xã Hòa Quý, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

Ông lớn lên trong một gia đình có truyền thống tham gia kháng chiến chống Pháp, trên một vùng quê có phong trào cách mạng mạnh.

Ngày 22/2/1965, khi vừa tròn 18 tuổi, Phan Hành Sơn nhập ngũ.

Nguyện vọng của người thanh niên trẻ rất rõ ràng:

được trực tiếp chiến đấu.

Trong quân đội, ông nhanh chóng thể hiện khả năng thích nghi, ý chí và bản lĩnh.

Từ những nhiệm vụ của một chiến sĩ, Phan Hành Sơn dần được giao phụ trách những đơn vị nhỏ rồi từng bước đảm nhiệm vị trí chỉ huy cao hơn.

Xuyên Phú – bước trưởng thành đầu tiên

Năm 1966, Phan Hành Sơn tham gia trận đánh tại Xuyên Phú.

Đây là một trong những trận đánh vào khu vực được đối phương bảo vệ chặt chẽ.

Theo tài liệu, Phan Hành Sơn thể hiện cách đánh mạnh, táo bạo và linh hoạt, chủ động đánh vào những mục tiêu quan trọng.

Những kinh nghiệm từ Xuyên Phú tiếp tục theo ông sang các trận lớn hơn.

Đến mùa thu năm 1967, Phan Hành Sơn tham gia các trận đánh tại:

quận lỵ Vĩnh Điện

thị trấn Nam Phước.

Ông tiếp tục được đánh giá là người có khả năng xử trí linh hoạt, biết lựa chọn mục tiêu quan trọng và tổ chức lực lượng đánh sâu vào bên trong.

Nhưng năm thể hiện rõ nhất khả năng chỉ huy của Phan Hành Sơn là 1968.

Xuân 1968 – từ Trung Lương đến Cồn Dầu

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Phan Hành Sơn tham gia nhiều trận đánh tại những khu vực trọng yếu của Quảng Nam – Đà Nẵng.

Tháng 2/1968, ông tham gia các trận:

Trung Lương

Cồn Dầu.

Đến tháng 8, mục tiêu là:

Non Nước.

Đây đều là những khu vực được đối phương bảo vệ chặt.

Nhiệm vụ của người cán bộ đại đội không chỉ là chỉ huy khi nổ súng.

Trước trận đánh, Phan Hành Sơn phải tổ chức hành quân bí mật, đưa đơn vị vượt qua các tuyến canh gác và tuần tra để tới đúng vị trí.

Chỉ cần một bộ phận bị phát hiện sớm, yếu tố bất ngờ có thể mất.

Vì vậy, ông đặc biệt chú trọng kiểm tra từng khâu.

Tài liệu mô tả ông có tác phong:

sâu sát – tỉ mỉ – chủ động.

Luôn ở mũi nhọn ác liệt

Khi trận đánh bắt đầu, Phan Hành Sơn thường không đứng xa để điều khiển.

Ông trực tiếp có mặt ở mũi tiến công chủ yếu.

Nơi ấy thường là hướng đối phương tập trung hỏa lực mạnh nhất.

Nhưng cũng là nơi nếu đột phá thành công, toàn bộ trận đánh có thể thay đổi nhanh chóng.

Phan Hành Sơn bình tĩnh quan sát, phán đoán và xử trí tình huống.

Khi thấy một điểm yếu, ông lập tức điều chỉnh đội hình.

Khi cần đánh sâu, ông tổ chức lực lượng thọc vào mục tiêu trọng yếu.

Phong cách ấy thể hiện rõ nhất tại Non Nước.

Trận Non Nước – đánh một tiểu đoàn ngay tại căn cứ

Tháng 8/1968, đơn vị của Phan Hành Sơn tiến công lực lượng biệt kích tại Non Nước.

Theo tài liệu, đây là một lực lượng đóng ngay trong căn cứ được tổ chức bảo vệ khá chặt.

Phan Hành Sơn chỉ huy đại đội tiếp cận mục tiêu.

Khi thời cơ xuất hiện, ông thúc đơn vị đánh mạnh ngay từ đầu.

Đối phương bị rối loạn đội hình.

Các bộ phận bị chia cắt.

Phan Hành Sơn tiếp tục chỉ huy lực lượng tiến công từng cụm.

Theo hồ sơ thành tích, đại đội của ông đã tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn biệt kích này.

Đây trở thành một trong những trận đánh tiêu biểu nhất của ông trong năm 1968.

Riêng năm 1968: 212 đối phương

Trong toàn bộ đợt Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Phan Hành Sơn tham gia nhiều trận liên tiếp.

Theo tài liệu tuyên dương, riêng trong năm này ông trực tiếp diệt:

212 đối phương

trong đó có:

64 lính Mỹ.

Những con số ấy góp phần đưa ông trở thành một trong những cán bộ nổi bật của mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng.

Nhưng toàn bộ quá trình 4 năm chiến đấu của Phan Hành Sơn còn cho thấy nhiều thành tích hơn.

452 đối phương trong 4 năm chiến đấu

Theo hồ sơ tuyên dương, trong 4 năm chiến đấu Phan Hành Sơn được ghi nhận:

Loại khỏi vòng chiến đấu 452 đối phương, trong đó có 143 lính Mỹ.

Ngoài ra ông còn:

bắn rơi 1 máy bay bằng súng bộ binh;
phá hủy 1 khẩu pháo 105 mm;
phá hủy 1 kho đạn;
phá hủy 4 xe GMC;
đánh sập 8 lô cốt;
đánh sập 4 dãy nhà;
thu 7 khẩu súng.

Nhưng điều đáng chú ý nhất là tốc độ trưởng thành của người cán bộ trẻ.

Bốn năm – bốn bước trưởng thành

Con đường quân ngũ của Phan Hành Sơn diễn ra rất nhanh:

1965: Tiểu đội phó.

1966: Tiểu đội trưởng.

1967: Trung đội trưởng.

1968: Đại đội trưởng.

Từ một thanh niên 18 tuổi vừa nhập ngũ, chỉ sau ba năm ông đã trở thành người chỉ huy một đại đội.

Theo tài liệu, sự trưởng thành ấy đến từ hai yếu tố:

được tập thể bồi dưỡng

khả năng tự rèn luyện trong thực tế chiến đấu.

Ông được đánh giá là người có bản lĩnh chỉ huy vững, bình tĩnh trước tình huống bất ngờ và luôn tìm cách vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

28 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ

Phan Hành Sơn có một thành tích thi đua đặc biệt.

Ông được tặng danh hiệu Dũng sĩ tới 28 lần, gồm:

1 lần Dũng sĩ diệt máy bay.

7 lần Dũng sĩ diệt Mỹ.

20 lần Dũng sĩ Quyết thắng.

Ngoài ra, từ năm 1965 đến 1967, ông liên tục được bầu là Chiến sĩ thi đua.

Năm 1968, tại mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng, Phan Hành Sơn được tuyên dương là:

“NGỌN CỜ ĐẦU XUNG KÍCH”

Đây là sự ghi nhận đặc biệt đối với một người cán bộ khi ấy mới khoảng 21 tuổi.

Người cán bộ không chỉ biết đánh trận

Phan Hành Sơn không chỉ được đánh giá qua thành tích cá nhân.

Cùng tập thể ban chỉ huy, ông chú trọng xây dựng đơn vị vững mạnh về nhiều mặt.

Các chiến công của đơn vị còn tạo điều kiện hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị và binh vận của nhân dân địa phương.

Điều đó cho thấy vai trò của người đại đội trưởng không dừng ở việc tổ chức một trận đánh.

Ông còn phải duy trì tinh thần đơn vị, đào tạo cán bộ cấp dưới, giữ đoàn kết và phối hợp với địa phương.

Phan Hành Sơn được anh em tin yêu chính từ phong cách ấy.

Ngày 20 tháng 12 năm 1969

Trong quá trình chiến đấu, Phan Hành Sơn được tặng:

13 giấy khen.

13 bằng khen.

1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất.

2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.

Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Phan Hành Sơn danh hiệu:

ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN GIẢI PHÓNG

Khi ấy, ông là Đại đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 2 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, Mặt trận Trung Trung Bộ.

Từ một thanh niên 18 tuổi bước vào quân ngũ, chỉ trong bốn năm Phan Hành Sơn đã trưởng thành thành một đại đội trưởng.

Con đường ấy có thể được tóm lại bằng bốn mốc:

Tiểu đội phó – Tiểu đội trưởng – Trung đội trưởng – Đại đội trưởng.

Và bằng một danh hiệu mà đồng đội dành cho ông trong năm 1968:

“Ngọn cờ đầu xung kích của mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn