PHAN HUY SƠN – NGƯỜI Y SĨ GẠC MA VÀ ĐỨA CON CHƯA KỊP GẶP CHA
Phạm Huy Sơn là một y sĩ Hải quân quê ở Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ An. Sau khoảng hai năm làm nhiệm vụ tại Trường Sa, ông trở về phép với gia đình nhưng chỉ 15 ngày trước khi hết phép đã nhận lệnh trở lại đơn vị, nhận nhiệm vụ mới tại Gạc Ma. Ngày 14/3/1988, ông hy sinh trong trận chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo, khi người vợ đang mang thai người con thứ hai. Đứa con gái Phạm Thị Trang chàY sĩ Phan Huy Sơn, quê Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ An, là một trong 64 cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong trận Gạc Ma ngày 14/3/1988. Anh ra đi khi vợ đang mang thai người con thứ hai. Hơn bảy tháng sau, cô con gái Phan Thị Trang chào đời, lớn lên không một lần được gặp cha, chỉ biết về ông qua di ảnh, những lá thư và những câu chuyện mẹ kể.o đời ngày 27/10/1988, hơn bảy tháng sau ngày cha hy sinh.

PHAN HUY SƠN
(Một số tài liệu ghi Phạm Huy Sơn)
Phan Huy Sơn sinh năm 1963, quê tại xã Diễn Nguyên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Anh là y sĩ thuộc Lữ đoàn 146, Quân chủng Hải quân, một trong 64 cán bộ, chiến sĩ Việt Nam hy sinh trong trận chiến bảo vệ chủ quyền tại Gạc Ma ngày 14/3/1988. Trong các tư liệu về gia đình và cuộc đời của anh, tên Phan Huy Sơn được sử dụng phổ biến; một số tài liệu khác ghi là Phạm Huy Sơn.
Cuối năm 1981, Phan Huy Sơn kết hôn với bà Trần Thị Ninh, người cùng quê. Cuộc sống vợ chồng chưa được bao lâu thì đến tháng 2/1982, anh lên đường nhập ngũ và thuộc biên chế Lữ đoàn 146 của Quân chủng Hải quân. Sau thời gian huấn luyện, anh được đơn vị cử đi học chuyên môn y tế, trước hết là đào tạo y tá rồi tiếp tục học để trở thành y sĩ. Hoàn thành khóa học, anh được điều động ra công tác tại các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó có đảo Song Tử Tây, với nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ nơi biển đảo.
Công việc của một người y sĩ Hải quân đưa Phan Huy Sơn đến với những nơi cách xa đất liền hàng trăm hải lý. Mỗi lần trở về với gia đình vì thế đều trở nên quý giá. Năm 1984, vợ chồng anh đón người con trai đầu lòng, đặt tên là Phan Huy Hà. Thế nhưng niềm vui làm cha mẹ nhanh chóng xen lẫn nỗi đau khi gia đình phát hiện Hà mắc bệnh bẩm sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển. Từ đó, việc chăm sóc con trở thành gánh nặng lớn đối với bà Trần Thị Ninh, trong khi Sơn vẫn phải thường xuyên xa nhà để thực hiện nhiệm vụ.
Những năm tháng ở Trường Sa khiến thời gian Sơn dành cho vợ con rất ít. Mỗi khi có điều kiện, anh lại viết thư về nhà. Những lá thư ấy không chỉ là lời hỏi thăm của một người chồng dành cho vợ, mà còn là cách một người cha ở nơi xa giữ lấy sự gắn kết với gia đình. Bà Ninh sau này vẫn giữ những lá thư ấy như những kỷ vật quý giá nhất mà chồng để lại.
Đầu năm 1988, Phan Huy Sơn được về phép. Sau những ngày xa cách, anh trở về với gia đình và lúc này bà Ninh đang mang thai người con thứ hai. Những ngày phép ngắn ngủi trở thành khoảng thời gian hiếm hoi để gia đình được ở bên nhau. Nhưng khi kỳ nghỉ chưa kết thúc, đơn vị gọi Sơn trở lại để nhận nhiệm vụ tăng cường ra khu vực Trường Sa. Theo lời kể của bà Ninh, anh còn khoảng 15 ngày phép nhưng phải lên đường gấp. Trước lúc đi, anh động viên vợ giữ gìn sức khỏe, yên tâm và chờ ngày anh trở về.
Đầu tháng 3/1988, tình hình tại khu vực quần đảo Trường Sa trở nên căng thẳng. Hải quân Việt Nam triển khai lực lượng thực hiện nhiệm vụ đóng giữ và bảo vệ các khu vực Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Phan Huy Sơn lên tàu HQ-604 cùng đồng đội để ra khu vực Gạc Ma. Trước khi lên đường, anh vẫn không quên gia đình. Ngày 9/3/1988, anh viết một lá thư gửi về cho vợ, trong đó dặn dò những việc rất đời thường và gửi tiền, quần áo, vải vóc cùng một số vật dụng cho gia đình. Đặc biệt, anh gửi 50.000 đồng để vợ mua đồ bồi dưỡng khi sinh nở, bởi lúc ấy bà Ninh đang mang thai.
Ngày 10/3/1988, Phan Huy Sơn viết lá thư cuối cùng gửi về nhà. Trong thư, anh báo đã gửi thêm tiền qua bưu điện và gửi quần áo cho con trai. Những dòng chữ được viết trong lúc chuẩn bị ra đảo, vẫn là những lời dặn dò giản dị của một người chồng, người cha trước chuyến đi làm nhiệm vụ. Khi ấy, không ai trong gia đình biết rằng đó sẽ là lần cuối cùng họ nhận được thư của anh.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ngày 14/3/1988, trận chiến tại khu vực Gạc Ma xảy ra. Các cán bộ, chiến sĩ Hải quân Việt Nam kiên cường thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo trong điều kiện vô cùng khốc liệt. Tàu HQ-604 bị bắn cháy và chìm. Phan Huy Sơn đã hy sinh cùng 63 cán bộ, chiến sĩ khác trong trận chiến ấy. Anh ra đi khi mới khoảng 25 tuổi, để lại phía sau người vợ trẻ và một gia đình vẫn đang chờ đợi ngày anh trở về.
Ở quê nhà, bà Trần Thị Ninh khi ấy vẫn đang mang thai người con thứ hai. Tin chồng hy sinh đến với bà như một cú sốc. Người đàn ông mà bà mới tiễn đi không lâu trước đó sẽ không bao giờ trở về nữa. Trong khi đó, người con trai Phan Huy Hà còn nhỏ và mang bệnh bẩm sinh. Từ đây, bà Ninh phải một mình nuôi hai con, vừa chăm sóc người con trai không khỏe mạnh, vừa chờ ngày đứa con thứ hai chào đời.
Sau khi Phan Huy Sơn hy sinh, cô con gái Phan Thị Trang được sinh ra trong năm 1988. Trang lớn lên khi chưa từng có một ký ức trực tiếp nào về cha. Hình ảnh về người cha đối với cô được hình thành từ những câu chuyện của mẹ, những bức ảnh gia đình và đặc biệt là những lá thư mà ông để lại trước chuyến đi cuối cùng. Người cha mà Trang biết đến là một người lính Hải quân, một người y sĩ đã dành những năm tháng tuổi trẻ để làm nhiệm vụ ngoài đảo xa và hy sinh khi cô vẫn còn chưa chào đời.
Điều đặc biệt là nghề nghiệp của cha sau này trở thành một phần trong lựa chọn của Trang. Cha cô từng là y sĩ Hải quân, còn Trang cũng theo học ngành điều dưỡng với mong muốn được làm công việc chăm sóc sức khỏe. Năm 2015, sau khi tốt nghiệp nhưng chưa tìm được việc làm ổn định, Trang viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Y tế, kể về hoàn cảnh gia đình và mong muốn được làm việc trong ngành y. Câu chuyện của cô sau đó được biết đến rộng rãi và cô được bố trí công việc tại Bệnh viện Đa khoa huyện Diễn Châu.
Từ một người lính ra đi năm 1988 đến cô con gái trưởng thành nhiều năm sau đó là cả một khoảng thời gian dài. Trong khoảng thời gian ấy, bà Trần Thị Ninh vẫn giữ lại những kỷ vật của chồng, đặc biệt là những lá thư viết vào những ngày cuối cùng trước khi anh ra đảo. Với người khác, đó có thể chỉ là những trang giấy đã cũ. Nhưng với mẹ con bà, đó là những thứ ít ỏi còn lại để hình dung về một người chồng, một người cha đã ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Bà từng chia sẻ rằng những lá thư ấy là những kỷ vật thiêng liêng sẽ gắn bó với mẹ con bà suốt cuộc đời.
Hơn ba mươi năm sau ngày Phan Huy Sơn hy sinh, câu chuyện về anh vẫn được nhắc lại trong những tư liệu về 64 chiến sĩ Gạc Ma. Nhưng phía sau một cái tên trong danh sách liệt sĩ là cả một cuộc đời rất cụ thể: một người chồng cưới vợ chưa lâu đã lên đường nhập ngũ, một người cha có con trai mắc bệnh bẩm sinh, một người y sĩ từng công tác ở Trường Sa và một người lính đã viết những dòng cuối cùng cho gia đình trước khi bước vào chuyến đi không trở lại.
Phan Huy Sơn hy sinh ngày 14/3/1988 tại Gạc Ma. Anh nằm lại cùng 63 đồng đội trong trận chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Nhưng với gia đình ở Diễn Nguyên, anh không chỉ là một liệt sĩ Gạc Ma. Anh còn là người chồng mà bà Trần Thị Ninh đã chờ đợi, là người cha mà Phan Thị Trang chưa một lần được gặp mặt, và là người để lại phía sau những lá thư đã trở thành ký ức quý giá nhất của một gia đình.
Có lẽ chính từ những điều rất đỗi đời thường ấy mà hình ảnh Phan Huy Sơn trở nên gần gũi hơn trong câu chuyện về những người lính Gạc Ma: một người y sĩ Hải quân đã sống, yêu thương gia đình, làm nhiệm vụ và hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ; để rồi nhiều năm sau, chính những người ở lại tiếp tục kể câu chuyện về anh, gìn giữ tên anh và nối tiếp những điều anh chưa kịp hoàn thành.



