PHAN NGỌC TÒNG: LÃNH BÌNH BA TRI VÀ NGỌN CỜ CẦN VƯƠNG TIÊN PHONG TRÊN ĐẤT BẾN TRE (VĨNH LONG)
Phan Ngọc Tòng (1818–1868) là vị Lãnh binh anh hùng triều Nguyễn, người đã giương cao ngọn cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược tại vùng đất Ba Tri, Bến Tre - nay là Vĩnh Long. Sau khi 6 tỉnh Nam Kỳ rơi vào tay giặc năm 1867, ông chủ động chiêu mộ nghĩa binh, củng cố căn cứ và tổ chức nhiều trận đánh quật cường gây cho địch nhiều tổn thất. Trong trận chiến sinh tử tại Giồng Gạch đầu năm 1868, ông đã chỉ huy nghĩa quân chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và anh dũng hy sinh ngay trên mặt trận. Tấm gương vị quốc vong thân và khí tiết kiên trung của Lãnh binh Phan Ngọc Tòng đã trở thành tượng đài bất tử, được nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu và nhân dân Nam Bộ ngàn đời tôn vinh.

PHAN NGỌC TÒNG: LÃNH BÌNH BA TRI VÀ NGỌN CỜ CẦN VƯƠNG TIÊN PHONG TRÊN ĐẤT BẾN TRE (VĨNH LONG)
Trong trang sử chống ngoại xâm bi hùng của nhân dân Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX, bên cạnh những sĩ phu dùng ngòi bút làm vũ khí như Nguyễn Đình Chiểu hay các nhà ngoại giao chịu nhiều đắng cay như Phan Thanh Giản, Bến Tre nay là Vĩnh Long còn là nơi sản sinh ra những trung thần nghĩa sĩ sẵn sàng tuốt gươm ra trận. Lãnh binh Phan Ngọc Tòng (1818–1868) – người con ưu tú của vùng đất Ba Tri – chính là ngọn cờ đầu trong phong trào kháng Pháp tại Cù lao An Hóa và dải đất Bến Tre. Bằng lòng yêu nước nồng nàn, khí tiết bất khuất và sự hy sinh oanh liệt trên chiến trường, ông đã tạc nên một tượng đài anh hùng bất tử, trở thành niềm tự hào sâu sắc của nhân dân Nam Kỳ lục tỉnh.
Phan Ngọc Tòng sinh ra tại làng An Bình Đông (nay thuộc thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre cũ). Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống võ học và yêu nước, ông từ nhỏ đã nổi tiếng là người gan dạ, tinh thông võ nghệ và giàu lòng nghĩa khí. Dưới thời vua Tự Đức, nhờ tài năng quân sự xuất chúng và sự tận tụy, ông được triều đình phong chức Lãnh binh – vị tướng chỉ huy quân đội cấp tỉnh. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm chiếm Gia Định rồi dần mở rộng ra toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ, ông đang phụ trách quân vụ tại địa bàn tỉnh Vĩnh Long và khu vực Bến Tre.
Năm 1867, sau khi cả 6 tỉnh Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp và sự kiện Kinh lược sứ Phan Thanh Giản tuẫn tiết làm chấn động cõi Nam, phong trào kháng chiến tự phát của nhân dân bùng lên mạnh mẽ khắp nơi. Không chấp nhận sống dưới ách đô hộ của ngoại xâm, Lãnh binh Phan Ngọc Tòng đã gác lại nỗi đau mất nước, đứng ra chiêu mộ nghĩa binh, dựng cờ khởi nghĩa ngay tại quê nhà Ba Tri. Dưới sự lãnh đạo của ông, lực lượng nghĩa quân quy tụ hàng ngàn người dân yêu nước, tự trang bị giáo mác, gậy gộc, súng kíp, biến vùng đất sông nước Ba Tri thành căn cứ kháng chiến kiên cố, liên tục tổ chức các trận phục kích gây cho địch nhiều thiệt hại.
Đỉnh cao bi tráng trong cuộc đời Lãnh binh Phan Ngọc Tòng diễn ra vào đầu năm 1868 tại trận chiến Giồng Gạch (làng An Bình Đông). Nhận được tin quân Pháp cùng tay sai đưa lực lượng hùng hậu tiến vào càn quét căn cứ Ba Tri, ông đã chủ động bố trí trận địa phục kích đón đánh địch. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt giữa một bên là quân xâm lược được trang bị hỏa lực tàu chiến, đại bác hiện đại và một bên là nghĩa quân với vũ khí thô sơ nhưng tràn đầy ý chí quyết tử. Trong lúc giáp lánh giáp chiến kiên cường, Lãnh binh Phan Ngọc Tòng đã anh dũng hy sinh ngay tại mặt trận vào ngày 14 tháng 2 năm 1868 (tức ngày 21 tháng Giêng năm Mậu Thìn).
Xét về ý nghĩa lịch sử, cuộc khởi nghĩa của Phan Ngọc Tòng không chỉ là đốm lửa tiên phong thắp sáng tinh thần Cần Vương tại vùng đất Bến Tre mà còn là minh chứng hùng hồn cho chí khí "thà làm ma nước Nam chứ không làm vương đất Bắc" của người dân Nam Bộ. Sự hy sinh oanh liệt của ông đã truyền cảm hứng sâu sắc cho nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu viết nên bài văn tế và các bài thơ liên hoàn viếng ông đầy xúc động, bất tử hóa hình ảnh người anh hùng Lãnh binh Ba Tri trong lòng dân tộc. Nhân dân Bến Tre đã lập đền thờ và hàng năm đều tổ chức lễ giỗ trang trọng để ghi nhớ công ơn ông.
Từ cuộc đời và tấm gương hy sinh vĩ đại của Lãnh binh Phan Ngọc Tòng, thế hệ hôm nay rút ra những bài học vô giá về lòng yêu nước và ý chí tự cường. Bài học đầu tiên là tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, không sợ hãi hay lùi bước trước kẻ thù dù đối mặt với gian khổ hay chênh lệch lực lượng. Bài học thứ hai là sức mạnh của lòng dân – khi tinh thần yêu nước được khơi dậy, nhân dân sẵn sàng trở thành những người lính kiên cường bảo vệ xóm làng. Tấm gương trung liệt của ông vẫn mãi là ngọn hải đăng soi đường cho thế hệ trẻ trong sự nghiệp cống hiến và bảo vệ Tổ quốc.
Mỗi khi thắp hương tưởng niệm tại Đền thờ Lãnh binh Phan Ngọc Tòng hay bước chân qua vùng đất Giồng Gạch lịch sử, lòng chúng ta lại trào dâng niềm kính phụng và tự hào sâu sắc. Thời gian có thể trôi qua hơn một thế kỷ, nhưng khí phách hiên ngang và hào khí chống Pháp của vị tướng Ba Tri vẫn sống mãi cùng dòng sông Ba Lai và mảnh đất Cù lao An Hóa. Soi mình vào tấm gương anh dũng của ông chính là động lực mạnh mẽ để thế hệ hôm nay không ngừng học tập, giữ gìn độc lập tự do và chung tay xây dựng quê hương Bến Tre cùng đất nước Việt Nam ngày càng phồn vinh, giàu đẹp.



