PHAN NGỌC TÒNG – NGƯỜI THẦY GIÁO MANG KHĂN TANG XÔNG THẲNG RA CHIẾN TRƯỜNG
Có những người dành cả đời để đứng trên bục giảng dạy học. Nhưng cũng có những người, khi đất nước lâm nguy, sẵn sàng rời bục giảng, khoác lên mình tấm áo nghĩa quân và cầm gươm bước vào trận chiến. Phan Ngọc Tòng chính là một con người như thế. Ông không phải vị quan lớn, cũng không phải danh tướng chỉ huy hàng vạn quân, mà chỉ là một thầy giáo làng bình dị ở Ba Tri. Thế nhưng tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử bởi lòng trung nghĩa và sự hy sinh oanh liệt trong buổi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Có những người dành cả đời để đứng trên bục giảng dạy học. Nhưng cũng có những người, khi đất nước lâm nguy, sẵn sàng rời bục giảng, khoác lên mình tấm áo nghĩa quân và cầm gươm bước vào trận chiến. Phan Ngọc Tòng chính là một con người như thế. Ông không phải vị quan lớn, cũng không phải danh tướng chỉ huy hàng vạn quân, mà chỉ là một thầy giáo làng bình dị ở Ba Tri. Thế nhưng tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử bởi lòng trung nghĩa và sự hy sinh oanh liệt trong buổi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Phan Ngọc Tòng, còn được gọi là Phan Tòng hay Phan Công Tòng, sinh khoảng năm 1818, quê tại làng An Bình Đông, tổng Bảo An, huyện Ba Tri, nay thuộc xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tư liệu về cuộc đời ông không còn nhiều, nhưng người dân địa phương đều truyền lại rằng ông là một hương giáo, tức thầy giáo làng, nổi tiếng thông minh, đức độ và luôn được bà con kính trọng. Không chỉ dạy chữ, ông còn dạy đạo lý làm người, hun đúc tinh thần yêu nước cho lớp trẻ trong vùng.
Năm 1867, sau khi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ lần lượt rơi vào tay thực dân Pháp, cả vùng Bến Tre sục sôi khí thế chống xâm lược. Những cuộc nổi dậy liên tiếp diễn ra dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh như Phan Tôn và Phan Liêm, con trai nhà thơ yêu nước Phan Thanh Giản. Lúc ấy, Phan Ngọc Tòng đang chịu đại tang mẹ. Theo phong tục Việt Nam, người con phải ở nhà chịu tang đủ lễ, nhưng trước cảnh non sông bị giày xéo, ông gác nỗi đau riêng để đứng lên chiêu mộ nghĩa quân. Chính sự cương trực và uy tín của người thầy giáo đã khiến đông đảo nông dân, trai tráng trong vùng tình nguyện theo ông đánh giặc. Nhận thấy tài năng và lòng quả cảm của Phan Ngọc Tòng, hai ông Phan Tôn và Phan Liêm đã cử ông giữ chức Đốc binh, trực tiếp chỉ huy một cánh nghĩa quân ở Ba Tri. Điều đặc biệt là khi ấy ông mới nhận chức được khoảng bảy, tám ngày, chưa kịp ổn định lực lượng thì đã phải bước vào trận đánh lớn.
Đầu năm Mậu Thìn 1868, quân Pháp mở cuộc càn quét quy mô xuống Ba Tri nhằm tiêu diệt các lực lượng kháng chiến. Ban ngày chúng chia quân đi lùng sục khắp làng mạc, đốt nhà, bắt người, truy tìm nghĩa quân. Đến đêm, toàn bộ lực lượng lại tập trung nghỉ tại một ngôi miếu cũ trên gò đất hoang có tên Giồng Gạch, nay thuộc xã An Hiệp. Sau nhiều ngày bí mật theo dõi quy luật hoạt động của đối phương, Phan Ngọc Tòng quyết định đánh phủ đầu. Đêm mùng 6 rạng sáng mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Thìn (tức 30/1/1868), dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông, nghĩa quân bất ngờ tập kích vào cứ điểm Giồng Gạch. Khẩu lệnh xung phong chỉ vỏn vẹn một tiếng hô "Hè!", nhưng tiếng hô ấy đã trở thành hiệu lệnh làm rung chuyển cả vùng Ba Tri. Nghĩa quân đồng loạt lao lên bằng gươm, giáo, mã tấu và những vũ khí thô sơ để đối đầu với súng trường, đại bác của quân Pháp. Cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Dù chiến đấu với tinh thần quyết tử, sự chênh lệch quá lớn về vũ khí khiến nghĩa quân chịu nhiều tổn thất.
Ngay trong trận đánh đầu tiên trên cương vị Đốc binh, Phan Ngọc Tòng đã anh dũng hy sinh, cùng rất nhiều nghĩa sĩ ngã xuống giữa Giồng Gạch. Sau trận đánh, người dân bí mật đưa thi hài ông về an táng tại quê nhà An Bình Đông. Còn nơi diễn ra cuộc chiến đẫm máu ấy, vì gần như toàn bộ nghĩa quân đều hy sinh, nhân dân gọi bằng cái tên Gò Trụi, với ý nghĩa đau xót: một trận đánh mà gần như không còn ai sống sót trở về. Tin Phan Ngọc Tòng hy sinh nhanh chóng lan khắp Nam Kỳ. Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, người luôn dành tình cảm đặc biệt cho các nghĩa sĩ chống Pháp, đã xúc động sáng tác chùm thơ nổi tiếng "Điếu Ba Tri Đốc binh Phan Công trận vong thập thủ" gồm mười bài thơ để tiễn biệt người anh hùng đất Ba Tri. Trong đó có những câu thơ bất hủ: "Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây, Một giấc sa trường phận rủi may." Và: "Làm người trung nghĩa đáng bia son, Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn." Những câu thơ ấy không chỉ là lời khóc thương một người nghĩa sĩ, mà còn trở thành bản tuyên ngôn về khí phách của biết bao người Việt Nam trong buổi đầu chống ngoại xâm.
Theo thời gian, chiến tranh và thiên nhiên khiến phần mộ của ông nhiều lần bị hư hại. Đến năm 1999, chính quyền địa phương xây dựng nhà bia tưởng niệm tại Giồng Gạch để ghi nhớ công lao của ông và các nghĩa quân. Năm 2007, hài cốt Phan Ngọc Tòng được cải táng về khu vực sau đình làng An Bình Đông, ngay trên mảnh đất ông đã chiến đấu và hy sinh. Hằng năm, vào đúng ngày diễn ra trận Giồng Gạch, nhân dân Ba Tri vẫn tổ chức lễ giỗ hội để tưởng nhớ người Đốc binh anh dũng cùng những nghĩa sĩ đã ngã xuống.
Lịch sử Việt Nam có nhiều vị tướng lừng danh, nhưng cũng có những con người rất bình dị như Phan Ngọc Tòng. Ông chỉ là một người thầy giáo làng, đang mang khăn tang mẹ, mới nhận chức Đốc binh chưa đầy mười ngày, nhưng đã hiên ngang dẫn đầu nghĩa quân lao vào làn đạn quân thù. Cuộc khởi nghĩa không thành công, nhưng sự hy sinh của ông đã góp thêm một trang bi tráng vào lịch sử chống Pháp của dân tộc và trở thành biểu tượng cho tinh thần "thà chết vì nước, quyết không khuất phục ngoại xâm" của người dân Bến Tre nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung.



