Cựu Thanh niên xung phong

PHAN THANH GIẢN, NGƯỜI TRUNG THẦN BẠC MỆNH GIỮA CƠN LỐC LỊCH SỬ

Cà Mau13/10/2026 Đoàn phường Chiềng Cơi (Đoàn phường Chiềng Cơi)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1825, dưới triều vua Minh Mạng (ở ngôi 1820–1841), Phan Thanh Giản đỗ Tiến sĩ, trở thành người Nam Kỳ đầu tiên đạt học vị cao quý này. Từ đó, cụ bước vào quan trường, làm quan trải qua ba triều vua lớn: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

Đến thời vua Tự Đức (ở ngôi từ 1847 đến 1883), vận nước suy yếu rõ rệt. Khi thực dân Pháp nổ súng chiếm Đà Nẵng năm 1858, rồi đánh Gia Định năm 1859, nhà Nguyễn rơi vào thế tuyệt vọng. Trước tình hình đó, vua Tự Đức, biết cụ Phan Thanh Giản là người đức độ, hiểu biết, nên giao cho cụ trọng trách đi sứ sang Pháp và Tây Ban Nha năm 1863, với hy vọng điều đình, giành lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã rơi vào tay Pháp.

Đi cùng cụ trên chuyến sứ mệnh năm 1863 là hai phó sứ: Phạm Phú Thứ và Nguyễn Khắc Niêm. Đoàn sứ bộ lên đường, băng qua biển lớn đến tận Paris và Madrid.

Tại Pháp, Phan Thanh Giản được tiếp xúc với Hoàng đế Napoléon III. Nhưng hy vọng chuộc đất là điều viển vông. Pháp, lúc ấy đang mở rộng thuộc địa khắp thế giới, không có ý định trả đất cho Việt Nam. Họ đối xử lịch sự với sứ bộ Việt Nam, nhưng trong thực tế đã định đoạt xong số phận Nam Kỳ.

Kẻ trực tiếp đối đầu với cụ là các viên toàn quyền thực dân Pháp tại Nam Kỳ như De La Grandière và các tướng chỉ huy lực lượng Pháp đang tiến hành kế hoạch chiếm toàn bộ miền Tây Nam Bộ.

Khi sứ mệnh thất bại, Phan Thanh Giản buồn bã trở về nước. Đầu năm 1867, tình hình càng bi đát. Quân Pháp liên tiếp đưa quân chiếm thêm các vị trí chiến lược. Triều đình Huế, không còn người đủ uy tín ở miền Nam, đã cử cụ Phan Thanh Giản làm Kinh lược đại thần Nam Kỳ, giao toàn quyền trông coi ba tỉnh miền Tây: Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Nhiệm vụ giao phó lúc ấy là gần như bất khả thi. Cụ ra Vĩnh Long, nhưng không có quân cứu viện, không có tiền bạc, vũ khí chỉ còn lèo tèo. Triều đình Huế đã bỏ rơi miền Nam từ trong ý chí.

Ngày 20 tháng 6 năm 1867, viên Đô đốc Pháp De La Grandière gửi tối hậu thư buộc cụ phải trao thành Vĩnh Long. Trước thế lực quân sự vượt trội và không có phương tiện kháng cự, cụ đành giao thành trong hòa bình để tránh đổ máu cho dân lành.

Ôm nỗi nhục mất nước, cụ Phan Thanh Giản tuyệt vọng. Ngày 4 tháng 8 năm 1867, cụ uống thuốc độc tự vẫn tại tư dinh Tổng đốc Vĩnh Long. Trước khi chết, cụ để lại nhiều thư từ tuyệt mệnh gửi vua Tự Đức, đồng liêu và thuộc hạ, trong đó bày tỏ nỗi lòng đau đớn vì không làm tròn trách nhiệm giữ thành, giữ nước.

Gia đình cụ Phan Thanh Giản

Cụ có một người vợ chính là bà Nguyễn Thị Vân.

Cụ có nhiều con trai tài giỏi, nổi bật nhất là Phan Tôn (chữ Tôn: 尊), một nhà nho yêu nước, sau này tham gia kháng Pháp, bị Pháp bắt và đày ra Côn Đảo.

Một người con khác là Phan Liêm, cũng tham gia nghĩa quân chống Pháp, sau bị bắt và lưu đày.

Tức là, dòng dõi của Phan Thanh Giản, dù cụ từng vì hoàn cảnh phải đầu hàng, nhưng con cháu cụ sau này đều nối chí lớn, cầm gươm súng chống thực dân

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
PHAN THANH GIẢN, NGƯỜI TRUNG THẦN BẠC MỆNH GIỮA CƠN LỐC LỊCH SỬ | Câu chuyện thời hoa lửa