Phan Thanh Giản- Vị tiến sĩ đầu tiên đất Nam Kì
Phan Thanh Giản- Vị tiến sĩ đầu tiên đất Nam Kì
Vùng đất Lục tỉnh (Nam Kì) được chính thức khai khẩn kể từ khi chúa Nguyễn sai Chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược năm Mậu Dần (1698) tính đến nay được trên 300 trăm. Mảnh đất này với 300 năm đã để lại những tên tuổi lớn: Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… Là người Nam Bộ, ai cũng có niềm tự hào về những danh nhân Nam Bộ này. Là kẻ sĩ, hay là học trò, tôi nghĩ, ai cũng có niềm vinh hạnh khi nhắc về vị Tiến sĩ đầu tiên đất Nam Kì Phan Thanh Giản (1796 – 1867) mà cuộc đời ông đến nay vẫn còn là một bi kịch.
2. Về làng Bảo Thạnh, Ba Tri (Bến Tre) trong những năm này, những năm đầu của thế kỉ XXI (2005), tuy đã có nhiều đổi mới, vươn lên, nhưng vẫn còn nhiều dấu vết để du khách còn nhận ra một vùng quê hết sức nghèo khó. Nhắc đến quê hương của Phan Thanh Giản, để hồi tưởng về gần 200 năm trước, ở nơi đây, làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh, sau đổi ra làng Bảo Thạnh, tổng Bảo Trị, huyện Bảo An, phủ Hoằng Trị, tỉnh Vĩnh Long, nay là làng Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, lại có một vị tiến sĩ mà người nay chỉ biết tự hào, không sao lí giải nổi về sự thành đạt ấy. Sự thành đạt của một ai đó ở vùng đất giàu truyền thống thì có thể hiểu được, nhưng ở vùng quê này thì quả là điều kì diệu, có sức lay động mọi tâm hồn người Nam Bộ mà qua đó cũng nói lên được nghị lực phi thường và ý chí vươn xa của người thanh niên Phan Thanh Giản ở vào tuổi thiếu thời.
Bài thơ “Ký nội” ông viết, khi ra kinh đô Huế ứng thí, không chỉ nói lên được ý nguyện của ông về chí làm trai, mà còn chứa đựng trong đó một tình cảm hết sức nhân ái đối với gia đình và cả đối với làng xóm, quê hương:
“Từ thuở vương xe mối chỉ hồng,
Lòng này ghi tạc có non sông.
Đường mây cười tớ ham giong ruổi,
Trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng.
Ân nước nợ trai đành nỗi bận
Cha già nhà khó cậy nhau cùng.
Mấy lời dặn bảo cơn lâm biệt,
Rằng nhớ rằng quên lòng hỡi lòng!”.
Hai câu “Đường mây cười tớ ham giong ruổi, Trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng.” đủ để nói lên chí nguyện và tình cảm của ông đối với người thân.
Trong bài “Gia biệt”, ông lại nói về cái chí của một người học trò nghèo ở một vùng quê khó nhọc, quả đáng cho chúng ta khâm phục:
“Ngã sanh bổn hàn tố,
Ngã tâm tư cổ đạo,
Thập tải sự mao chùy,
Sở chí phi ôn bão.”.
(tạm dịch: “Tôi sinh trong một gia đình nghèo, lòng vốn chăm theo học đạo xưa, sự mở mang tâm trí những mất mười năm, cốt lập chí không vì sự no ấm.”)
Và sự khiêm tốn như một bản chất vốn có của ông từ thuở thiếu thời:
“Độc học tối cô lậu,
Sở đắc diệc lỗ mãng.
Khởi cảm vọng thanh tử,
Văn kiến thứ hữu bổ.”.
(tạm dịch: “Việc tự học nên rất quê mùa, kém cỏi, điều học được hãy còn chưa đầy đủ, dám mơ gì xiêm áo, mong có được hiểu biết cũng bổ ích rồi.”)
Tình cảm mà ông giành cho gia đình là một tình cảm vô bờ bến. Nhưng chí làm trai như lời “nghiêm huấn” luôn được ông đặt trên. Vì thế, cuộc chia tay để đi vào chốn quan trường đối với chàng thanh niên Phan Thanh Giản không phải là điều dễ dàng. Kết thúc bài thơ, ông viết:
“Du du xuất môn khứ,
Lâm thâm dạ sắc vi.
Gia cận bất khả kiến,
Thế lệ triêm thường y.”.
(tạm dịch: “lòng buồn rười rượi khi bước ra khỏi nhà, rừng sâu đêm tối mờ mờ, nhà gần mà không thể nhìn thấy, nước mắt dầm dề khăn áo.”)
Hai bài thơ trước khi ông đi làm quan đủ để nói lên nhân cách, đạo đức căn bản mà ông đã tiếp thu được từ nền tảng giáo dục trọng đạo lí của gia đình.
Trên bước đường công danh, nói tới Phan Thanh Giản, người đời thường đề cập tới hai khía cạnh: một vị quan đạo đức, chính trực – liêm khiết, thương dân, nhưng cuối đời phải một bi kịch; một nho sĩ có tầm hiểu biết rộng và nhân cách lớn rất đỗi tự hào của đất Nam Kì.
Là một vị quan của triều đình phong kiến cuối thời, tuy ông đi làm quan xa gia đình và mặc dù triều đình phong kiến cho phép, nhưng ông không như những vị quan thông thường khác năm thê, bảy thiếp. Điều này nói lên một phẩm chất đạo đức đáng được ghi nhận ở ông. Hoàng Lại Giang viết về cảm nhận của vua Minh Mạng với Phan Thanh Giản như sau: “Minh Mạng im lặng. Tuy giận, nhưng xét cho cùng Phan Thanh Giản là người trong sáng và tâm đức. Chẳng thế mà y vừa lấy vợ được bảy ngày đã nhờ vợ về chăm sóc ông Phan Thanh Ngạn ở Vĩnh Long đang già yếu. Y thị thương chồng cưới cho y một con vợ, ra Huế lo sớm tối cho y, y lại từ chối cho về. Đấy đúng là quân tử sỉ kì ngôn nhi quá kì hành.” (Phan Thanh Giản nỗi đau trăm năm).



