Phan Thị Bạch Vân – nữ nhà báo, nhà văn, chủ cơ sở xuất bản vì nữ quyền đầu tiên ở Nam Kỳ
Phan Thị Bạch Vân (1903-1980) là nữ nhà báo, nhà văn xuất sắc ở Nam Kỳ trong những năm đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, do chính sách cấm đoán của chính quyền thuộc địa, tác phẩm của bà và do bà tổ chức in ấn bị thất lạc nhiều, khiến cho người đời sau không rõ hình dung về một gương mặt nữ quyền tiêu biểu ở khởi đầu của phong trào phụ nữ Việt Nam.

theo tìm hiểu của nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn (1), bà tên thật là Phan Thị Mai, quê làng Bình Trước, tổng Phước Vĩnh Thượng, tỉnh Biên Hòa, là con thứ năm trong một gia đình quan lại suy vi vì người cha làm tri huyện chẳng may mất sớm, để lại vợ và bẩy người con. Năm 17 tuổi bà lập gia đình nhưng cuộc tình duyên này sớm tan vỡ. Đến năm 25 tuổi, bà bắt đầu viết báo, viết văn và nhờ duyên văn mà bà kết hôn lần nữa, trở thành vợ lẽ của ông chủ thương hiệu thuốc Võ Đình Dần nổi tiếng ở Nam Kỳ lúc bấy giờ. Năm 1928, bà theo chồng về sống ở Gò Công (Mỹ Tho, Tiền Giang), và ở đây, nhờ sự hậu thuẫn của chồng, bà sáng lập và điều hành Nữ lưu thơ quán Gò Công, một cơ sở xuất bản tranh đấu cho nữ quyền hoạt động năng nổ, hiệu quả và có ảnh hưởng xã hội rộng lớn.
Trong quan sát của nhà phê bình Thiếu Sơn lúc đương thời, Nữ lưu thơ quán đã ra đời “giữa hồi phong trào quốc gia đương bồng bột ở xã hội Việt Nam”, và “theo gương các thơ xã đàn ông mở ra để hô hào về quốc sự”, Phan Thị Bạch Vân cũng mở ra Nữ lưu thơ quán “để giác ngộ và cổ động cho phụ nữ biết phấn đấu vì quyền lợi và nghĩa vụ của mình” (4). Có được hiệu ứng của các phong trào quốc gia, và có thể cũng được trợ giúp từ nguồn tài chính của ông Vũ Đình Dần, Nữ lưu thơ quán đã hoạt động sôi nổi, thu hút một lượng độc giả đông đảo “có số trên hai ngàn người” (5). Với số lượng độc giả ấy, Thiếu Sơn cho rằng đối với nữ giới, Nữ lưu thơ quán đã “có ảnh hưởng lớn lắm”, “đã có công thay đổi được ít nhiều cái sở hiếu của quần chúng nữ lưu để tập dần cho họ biết quan niệm và thiệt hành những vấn đề có bổ ích cho tiên đồ phụ nữ”. Song do “có nhiều khuynh hướng về quốc sự” nên Nữ lưu thơ quán cũng chỉ tồn tại được vài năm (1928-1930). Tuy ngắn ngủi là vậy, kết quả đạt được của Nữ lưu thư quán vẫn rất đáng kể, “in ra trước sau được 39 quyển”. Cho đến khi “chủ nhân bị hầu bồi thẩm bốn lần, ra tòa hai bận, suýt chút nữa thì bị giam” vì “chính phủ buộc tội dùng văn chương để làm rối loạn cuộc trị an bản xứ” (6), thì trong số các sách xuất bản đó, “một phần ba” bị cấm” (7).



