Bài viết

Phan Thị Dung - người đã âm thầm hiến dâng cả cuộc đời, cả tuổi thanh xuân để đất nước được độc lập, tự do

Quảng Trị05/06/2026Lê Thảo Ngọc (Đoàn trường THPT chuyên Võ Nguyên Giáp)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Có biết bao người con gái, con trai

Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra đất nước.”

Khi hay tin cuộc thi viết về “Câu chuyện thời hoa lửa” được khởi xướng, trong đầu tôi bỗng hiện lên những câu thơ đầy thiêng liêng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Đúng thế! Có biết bao chiến sĩ đã nằm lại trên chiến trường, có biết bao người con không thể trở về bên mẹ, bên gia đình, “Tiễn con đi với đủ hình hài. Đón con về, con đã hoá thành Đất Nước”. Tuy chiến tranh đã qua đi, hoà bình lặp lại nhưng những đau thương, mất mát của một thời kháng chiến vẫn âm ỉ trong ký ức người ở lại. Tôi may mắn sinh ra trong thời kỳ hòa bình, độc lập của đất nước, lớn lên với những buổi chiều thả diều trên cánh đồng lúa bạt ngàn, với những hôm nghịch ngợm, rong chơi với mấy đứa trẻ trong xóm, và cả với tiếng hát ru của bà vào những buổi trưa hè.

Thời trẻ, bà ngoại tôi là dân quân du kích, vì vậy bà rất hay kể cho tôi những câu chuyện mà bà trải qua trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Mỗi khi bà kể chuyện, tôi đều chăm chú lắng nghe và không khỏi tự hào về những chiến công của cha ông ta. Bà tôi, tham gia lực lượng dân quân du kích từ rất sớm. Khi kể lại, bà chỉ cười hiền và bảo: “Ngày đó, ai cũng nghĩ đơn giản, đất nước cần thì mình góp sức”. Công việc của bà không chỉ dừng lại ở sinh hoạt thường nhật, mà còn gắn liền với cả sản xuất và chiến đấu. Ruộng đồng là nguồn sống của cả làng, nhưng máy bay địch luôn rình rập thả bom hòng cắt đứt nguồn lương thực của nhân dân ta . Vì vậy, bà và mọi người thường gặt lúa, cấy cày vào ban đêm để tránh sự phát hiện của máy bay trinh sát. “Hôm nào có trăng thì tận dụng ánh trăng mờ mờ để gặt lúa, hôm không có thì cả làng chỉ đành làm việc trong bóng tối, mò mẫm mà làm”, bà kể. Lúc nghe chuyện này, tôi còn nhỏ nên không hiểu, ngây ngô hỏi: “Tại sao người ta không dùng nến hoặc đèn hả bà? Tối om vậy thì làm sao thấy đường.” Nghe xong bà cốc đầu tôi, mắng yêu: “Con bé này! Địch nó thấy nó thả bom, không khéo đi tong cả mấy thửa ruộng bây giờ.” Cả làng đào hầm chữ A, tháo cả cột nhà xuống để làm hầm. Giao thông hào, hầm cá nhân rải rác khắp nơi. Trường học khi ấy chỉ là những mái tranh, ngói lá tạm bợ. Có khi các buổi học thậm chí còn diễn ra ngay dưới hầm trú ẩn.

Không chỉ vậy, bà còn tham gia trực tiếp vào công tác bảo vệ vùng biển quê hương. Đêm nào bà cũng cùng các anh chị dân quân tuần tra bờ biển. Mỗi đêm trực chia thành nhiều kíp, mỗi kíp khoảng hai đến ba người. Hồi ấy, bọn Mỹ có một đội lực lượng biệt kích được gọi là “Người nhái”, chúng chuyên thực hiện các nhiệm vụ trên biển và ven biển. Nhiệm vụ của bà và các thành viên thuộc dân quân du kích là kịp thời phát hiện, ngăn chặn chúng và truyền tin về nếu có tình huống khẩn cấp. Vào mùa hè còn đỡ, những hôm mùa đông trời rét cắt da cắt thịt. Từng đợt sóng đánh`cùng tiếng gió gào rít nghe rất dễ sợ. Thời ấy dân ta còn nghèo, của ăn còn không có mấy thì lấy đâu ra nhiều quần áo ấm để mặc, bà và các thành viên trong kíp trực buộc phải đi nép sát vào nhau cho đỡ rét.

Ở xã có một cây cầu mà mọi người gọi là cầu Chánh Hòa, đây là điểm mà quân địch nhắm tới nhằm cắt đứt viện trợ của quân ta. Vì vậy, máy bay địch đánh phá cầu vô cùng ác liệt. Thanh niên trong làng không quản hiểm nguy, xử lý hố bom, mở đường cho xe chi viện đi qua.

Có những ký ức ám ảnh khi bà kể về người bị bom dội, không còn gì, gia đình phải đi gom từng mảnh để mai táng. Nghe bà kể xong tôi lạnh cả người, phần nào hiểu được những khó khăn, gian khổ mà thế hệ cha ông ta phải trải qua. Kẻng báo động vang lên liên tục, dân quân và thanh niên luôn trong trạng thái sẵn sàng cứu người. Ban đêm, máy bay thả pháo sáng để đánh dấu khu vực ném bom. Dân quân ta chia thành từng đội, làm nhiệm vụ ứng cứu, cứu trợ, bới đào.

Gia đình bà cũng chịu nhiều mất mát. Bà sống cùng cha mẹ, tức ông cố và bà cố của tôi, và em gái bà. Một trận bom dội xuống, bà cố và em gái bà đã ra đi mãi mãi. Nỗi đau thương, mất mát ấy theo bà suốt cả cuộc đời. Mỗi sáng sớm, loa tuyên truyền vang lên, kêu gọi những thanh niên cùng lứa đứng lên bảo vệ quê hương. Có phong trào vận động thanh niên gom rác, giữ gìn làng xóm với khẩu hiệu: “Sạch làng, tốt ruộng.” Bà cũng thường xuyên tích cực tham gia các hoạt động phong trào, phấn đấu kết nạp Đảng. Trải qua rất nhiều khó khăn, bà cuối cùng cũng trở thành Đảng viên. Lần nào nhắc đến hồi ức ấy, giọng nói của bà luôn đan xen xúc động và sự tự hào, phấn khởi.

Cảnh vật sau mỗi trận bom thật ám ảnh, bom napan đốt trơ trụi, cảnh vật tan hoang, người chết la liệt khắp nơi. Cây cỏ tan xơ xác, nhà cửa, hầm trú ẩn sập hết, thương vong nhiều vô tận. Bọn Mỹ còn thâm độc hơn nhiểu, chúng rải cả bom bi, nhiều em nhỏ tưởng là đồ chơi, cầm lên chơi đùa và rồi những viên bi mang đầy tội ác ấy phát nổ, để lại những nỗi đau không thể xóa nhòa. Trong hoàn cảnh ấy, nhiều thanh niên đã viết đơn bằng máu xin đi bộ đội. Ông ngoại tôi cũng lên đường nhập ngũ. Ông tôi là quân y. Ông bà vô quen nhau trong một lần làm nhiệm vụ. Năm 1979, ông tiếp tục tham gia chiến tranh biên giới. Ông bà liên lạc với nhau qua những lá thư ngắn ngủi, ông rất ít khi về thăm nhà. Ông ở biên giới cho tới năm 1986, lúc ông về hưu, thì mới trở về.

Bà còn kể cho tôi rất nhiều câu chuyện khác, mỗi lần nghe bà kể lại, lòng biết ơn và tình yêu quê hương đất nước trong tôi lại càng thêm sâu sắc. Chúng ta không thể hiểu hết những nỗi đau, mất mát và sự hy sinh mà thế hệ cha ông đã phải gánh chịu trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Câu chuyện của bà tôi không chỉ là ký ức của một đời người, mà còn là lời nhắc nhở thế hệ sau này phải biết trân trọng cuộc sống hoà bình, biết ơn thế hệ đi trước đã âm thầm hiến dâng cả cuộc đời, cả tuổi thanh xuân để đất nước được độc lập, tự do.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn