Phan Thị Nghét- Người hùng ở tỉnh em
Bà Phan Thị Nghét là người con ưu tú của tỉnh Tây Ninh, bà là một biểu tượng của lòng kiên trung, vào giai đoạn năm 1968-1975, bà trải qua 7 năm bị giam cầm tại nhiều nhà tù khét tiếng như: nhà lao Tân Hiệp, Khám Chí Hòa và cuối cùng là chuồng Cọp tại Côn Đảo. Dù bà bị những trận tra tấn dã man, bà vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một thông tin nào. Vào khoảng thời gian 1975, sau hiệp định Paris được thực thi và miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà được trao trả tự do, trở về quê hương Tây Ninh. Sau năm 1975, bà giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chủ Tịch Hội Phụ nữ huyện Trảng Bàng và tham gia xây dựng chính quyền. Vào năm 2015, bà vinh dự được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
Phan Thị Nghét sinh năm 1975, tại xã An Tịnh huyện Trảng Bàng (nay là phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, nơi bà sớm giác ngộ và tham gia vào lực lượng biệt động ngay từ khi còn trẻ, khi mới 15 tuổi bà đã bộc lộ sự thông minh và lòng gan dạ. Chỉ 2 năm sau đó, khi mới 17 tuổi bà đã được tin tưởng giao cho một trọng trách là đội trưởng. Đội biệt động mật xã An Tịnh (Trảng Bàng). Đây là một vị trí cực kỳ nguy hiểm, đòi hỏi bản lĩnh rất lớn vì phải tham gia hoạt động ngay trong lòng địch.
Năm 1961, (khi bà 12 tuổi ) Phan Thị Nghét bắt đầu tham gia cách mạng với vai trò giao liên, nuôi giấu cán bộ tại quê hương Trảng Bàng. Nhờ vẻ ngoài nhỏ nhắn và nhanh nhẹn, bà đóng vai một cô gái nông thôn đi làm đồng hoặc đi chợ để vận chuyển thư từ tài liệu mật giữa các căn cứ cách mạng và nội đô. Bà tham gia trinh sát nắm tình hình quân địch quan sát các biến động của quân đội sài gòn tại địa phương, bà theo dỗi các quy luận đi lại các toán quân tuần tra để báo cáo cho lực lượng du kích.
Sự dũng cảm của Phan hị nghét được thể hiện rực rỡ nhất qua những thử thách sinh tử tại các lần bị giam cầm.
Vào tháng 2/1968 (Mậu Thân), trong một trận đánh vào căn cứ địch tại Trảng Bàng, bà không mai bị thương nặng và rơi vào tay giặc.
Ý chí sắc đá trước những đòn tra tấn dã man, với việt tra tấn điện và nước, đánh đập trên vết thương nó còn được gọi là “những trận đòn thừa sống thiếu chết tại đất liền”. Năm 1970, bà bị đầy ra Côn Đảo. Tại đây, bà bị nhốt vào các chuồng Cọp nơi được người Việt Nam xem là nơi để hủy hoại thể xác lẫn tinh thần con người, bà bị rắc vôi bột và đổ nước bẩn, chế độ ăn uống tồi tệ và dùng gậy nhọn đâm từ trên xuống,…Sự im lặng của bà đã bảo vệ an toàn tuyệt đối những thông tin mật của nhân dân ta.
Sau hiệp định Paris có hiệu lực và đặc biệt là sau ngày 30/4/1975, bà phan thị nghét trở về quê hương Ttrảng Bàng trong sự vỡ òa của gia đình và đồng đội. Một người phụ nữ kiên cường bước ra từ “ án tử hình” và “ địa ngục ở Côn Đảo”. Khi bà trở về vẫn tiếp tục cống hiến cho bộ máy chính quyền, bà tham gia công tác tại hội liên hiệp phụ nữ. Bà giữ các chức vụ trong bộ máy chính quyền ở địa phương, đóng góp ý kiến để phục hồi kinh tế vùng đất thép vốn bị tàn phá nặng nề bởi bom đạn.
Các cuộc hành trình tìm kiếm đồng đội của bà, bà dành nhiều thời gian lặn lội khắp nơi từ những cánh rừng các hầm bí mật cũ ở Tây Ninh để chỉ dẫn, hỗ trợ tìm kiếm hài cốt liệt sĩ. Bà tâm niệm “ mình sống được hôm nay là do sương máu của anh em, nên còn sức là còn đi tìm hộ” cho thấy bà là người vẹn tròn nghĩa tình, luôn sống với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và coi việc đưa anh em về nhà là việc thiêng liêng.
Câu truyện về bà Phan Thị Nghét không chỉ là một trang sử hào hùng mà còn là một bài học lớn về lòng yêu nước và ý chí con người. Đó là minh chứng cho thấy trong hoàn cảnh khó khăn nhất, bà đã trải qua bao những đòn tra tấn tàn khóc của kẻ thù, con người việt nam vẫn có thể tỏa sáng bằng tinh thần bất khuất vào niềm tin sâu sắc vào tổ quốc.
Từ tấm gương kiên trung của bà Phan Thị Nghét, chúng em rút ra được nhiều bài học quý giá, qua những lòng biết ơn và ý chí vương lên. Em cũng hiểu rõ được giá trị của hòa bình mà mình đang có. Đó không chỉ là sự bình yên không tiếng súng, mà là thành quả của máu xương qua bao thế hệ cha ông. Vì vậy, em tự hứa sẽ không ngừng học tập trau dồi đạo đức và rèn luyện kĩ năng, biến lòng biết ơn thành hành động cụ thể để cống hiến cho quê hương. Hòa bình hôm nay là nguồn động lực to lớn, nhắc nhở thế hệ trẻ chúng em phải sống trách nhiệm hơn, kiên cường hơn trước mọi khó khăn xứng đáng với những gì mà cha anh đã gửi gắm và tiếp tục xây dụng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh. Em hiểu rằng, yêu nước hôm nay không chỉ là những điều lớn lao mà còn là một cách để giữ gìn bản sắc dân tộc, tiếp nối truyền thống.



