Phan Trọng Tuệ - "Tổng công trình sư" của mạch máu giao thông thời chiến
Tư duy chiến lược và những cống hiến to lớn của Thiếu tướng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Phan Trọng Tuệ – người đã lãnh đạo ngành giao thông vượt qua mưa bom bão đạn, giữ vững mạch máu chi viện cho chiến trường miền N
1. Vị Bộ trưởng trực tiếp ra tiền tuyến
Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ không chỉ là một nhà lãnh đạo cấp cao mà còn là một vị tướng dạn dày sương gió. Giai đoạn 1965, khi đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc hòng chặt đứt nguồn chi viện cho miền Nam, ông đang giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải và được giao kiêm nhiệm Tư lệnh Đoàn 559 (Bộ Tư lệnh Trường Sơn).
Không ngồi trong phòng họp an toàn, ông trực tiếp khoác ba lô, lội bộ vào những "tọa độ chết" ở Khu 4 và tuyến đường Trường Sơn để khảo sát tình hình. Sự có mặt của vị Bộ trưởng tại những ngầm tràn, trọng điểm ngập ngụa khói bom đã thổi bùng lên ngọn lửa quyết tâm của hàng vạn công nhân cầu đường, bộ đội công binh và thanh niên xung phong.
2. Chiến lược "Mặt đường là trận địa"
Dưới sự chỉ đạo của Phan Trọng Tuệ, ngành giao thông vận tải đã chuyển mình mạnh mẽ, hoạt động với tinh thần kỷ luật của quân đội. Ông đề ra khẩu hiệu nổi tiếng: "Mặt đường là trận địa, công nhân giao thông là chiến sĩ".
Đa dạng hóa phương thức vận tải: Ông chỉ đạo kết hợp linh hoạt giữa đường bộ, đường thủy và đường sắt. Khi cầu bị đánh sập, lập tức có phà, phao thay thế.
Mở đường vòng, đường tránh: Để đối phó với chiến thuật rải thảm của địch, ông yêu cầu mở thêm nhiều con đường xương cá, đường kín dưới tán rừng già. Địch đánh đường này, ta đi đường khác, quyết không để xe nằm chờ đường.
3. Dấu ấn vĩ đại cho ngày toàn thắng
Bằng nhãn quan chiến lược sắc bén và tinh thần chỉ đạo quyết liệt, Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ đã góp phần xây dựng một mạng lưới giao thông liên hoàn, kiên cố. Bất chấp hàng triệu tấn bom đạn của kẻ thù, mạch máu giao thông chưa bao giờ bị cắt đứt. Những cống hiến của ông đã làm nên một kỳ tích trong lịch sử chiến tranh nhân dân, tạo tiền đề vật chất và tinh thần vô cùng to lớn để quân và dân ta tiến tới Đại thắng mùa Xuân 1975.



