Anh hùng Lực lượng vũ trang

Phan Tư – Người mở đường giữa dòng Nậm Na và mưa bom Điện Biên

Phạm Anh Thư

Nghệ An22/08/2026phường Kiến An (phường Kiến An)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phan Tư sinh năm 1931, quê ở xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Tháng 6-1951, Phan Tư nhập ngũ, được biên chế vào Trung đội 51, Đại đội 124, Tiểu đoàn 555 thuộc Cục Công binh. Từ ngày khoác lên mình bộ quân phục cho đến tháng 5-1954, anh liên tục có mặt trong những chiến dịch lớn ở Bắc Bộ. Dù được giao bất cứ công việc gì, ở bất kỳ vị trí nào, Phan Tư cũng luôn giữ vững tinh thần dũng cảm, không ngại gian khổ, hiểm nguy và tìm mọi cách hoàn thành nhiệm vụ.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị của Phan Tư nhận một nhiệm vụ đặc biệt: phá các thác đá trên sông Nậm Na để mở thêm tuyến vận chuyển từ biên giới Việt - Trung về thị xã Lai Châu. Đây là con đường vận chuyển vô cùng quan trọng đối với hậu cần chiến dịch. Tháng 1-1954, bộ đội hậu cần đã đưa hơn 250 bè mảng xuống đoạn sông này, nhưng kết quả lại vô cùng đau xót. Trên hơn 70km đường sông có tới 163 thác lớn, nhỏ, khiến bè liên tục bị vỡ, hàng hóa chìm xuống nước; riêng gạo đã mất tới 200 bè. Mỗi lần chứng kiến những bè gạo bị dòng nước cuốn phăng, Phan Tư càng day dứt bởi phía trước là hàng vạn chiến sĩ đang chờ lương thực.

Phá thác là một nhiệm vụ hoàn toàn mới. Trời rét buốt, hai bên bờ sông hầu như không có dân cư, việc ăn ở vô cùng thiếu thốn. Muốn mở được đường sông, những khối đá chắn ngang dòng nước phải được phá bằng thuốc nổ. Nhưng đặt thuốc nổ ở đâu để không bị dòng nước cuốn trôi? Làm thế nào để bộ phận gây nổ không bị ngấm nước, mất tác dụng? Chưa có kinh nghiệm, đơn vị quyết định trước hết tập trung phá thác Chiềng Nưa, một thác khá lớn, để rút kinh nghiệm.

Trước nhiệm vụ nguy hiểm ấy, Phan Tư xung phong nghiên cứu phá thác trước. Anh nhiều lần lặn xuống dòng nước lạnh buốt để quan sát địa hình, tìm vị trí có thể đặt bộc phá. Sau nhiều lần thử nghiệm, Phan Tư quyết định trực tiếp thực hiện. Anh ôm khối thuốc nổ nặng 6kg, ngòi đã được đốt sẵn, rồi nhoài người xuống dòng nước, ấn khối thuốc nổ thật sâu vào khe đá. Ngay sau đó, anh nhanh chóng ngoi lên và bơi vào bờ. Vừa khi Phan Tư đặt chân tới nơi an toàn, một tiếng nổ lớn vang lên. Khối đá chắn ngang dòng nước bị phá tung, thác Chiềng Nưa được khai thông.

Thành công đầu tiên ấy trở thành kinh nghiệm quý giá cho cả đơn vị. Phan Tư tiếp tục trực tiếp phá thêm 4 thác để tìm ra phương pháp an toàn và hiệu quả hơn. Anh nhận ra cách trực tiếp mang thuốc nổ xuống dòng nước tuy có tác dụng nhưng quá nguy hiểm. Sau nhiều suy nghĩ, Phan Tư sáng tạo ra cách gói thuốc nổ bằng lá dong giống như gói bánh chưng rồi buộc thật chặt, nhờ đó nước không thể thấm vào thuốc nổ. Phương pháp mới vừa hiệu quả vừa an toàn hơn, nhanh chóng được anh em trong đơn vị tin tưởng áp dụng.

Trung đội của Phan Tư sau đó được chia thành các tiểu đội, mỗi tiểu đội phụ trách khoảng 25km sông với khoảng 30 thác. Công việc diễn ra trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt: trời rét buốt, ngày nào cũng phải ngâm mình dưới nước, lương thực thiếu thốn, đêm đến phải ngủ trong những hang đá. Thế nhưng không ai nản chí. Có những thác dữ đến mức Phan Tư phải thử tới lần thứ mười hai mới buộc được thuốc nổ vào đúng vị trí. Có hôm, đơn vị vừa nhận được 250kg thuốc nổ, đặt lên bè và neo buộc cẩn thận thì trời bất ngờ mưa lớn, gió mạnh làm bè đứt dây, trôi theo dòng nước. Phan Tư cùng đồng đội phải lần theo dòng sông trong đêm tối để tìm kiếm, rồi kéo được cả bè thuốc nổ trở về.

Sau gần 2 tháng liên tục vượt qua giá rét, dòng nước dữ, thiếu thốn và hiểm nguy, trung đội của Phan Tư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Những dòng thác từng khiến hàng trăm bè gạo chìm xuống sông nay đã được khai thông, tạo thêm một tuyến vận chuyển quan trọng phục vụ chiến trường Điện Biên Phủ. Nhiều cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị được khen thưởng vì thành tích ấy.

Nhưng công việc của Phan Tư chưa dừng lại ở dòng Nậm Na. Ngày 30-3-1954, đợt tiến công thứ hai của Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Chỉ trong 7 ngày, quân ta lần lượt chiếm được nhiều cứ điểm trên các đồi D, E, C, A, vòng vây quanh tập đoàn cứ điểm ngày càng siết chặt. Địch liên tục đổ quân dù xuống tăng viện, đồng thời ngày đêm dùng pháo binh bắn phá những khu vực chúng nghi có lực lượng của ta. Trên các vị trí C1 và A1, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt.

Bước sang tháng 4, những trận mưa lớn khiến nhiều tuyến đường tiếp tế bị sạt lở, bùn đất nhão nhoét. Máy bay địch càng tăng cường đánh phá các đèo, dốc và những trọng điểm giao thông. Trung đội Phan Tư vừa phải khắc phục đường lầy lún, vừa đối mặt với những quả bom nổ chậm mà địch rải xuống đường vận chuyển. Trung bình mỗi ngày, tại mỗi trọng điểm, máy bay địch ném từ 160 đến 200 quả bom các loại. Có đợt chúng đánh phá liên tục 10 ngày.

Trong những ngày ấy, Phan Tư được giao nhiệm vụ quan sát vị trí bom rơi. Mỗi khi máy bay địch quay trở lại, thay vì tìm nơi trú ẩn, anh dũng cảm nằm ngay trên mặt đường để quan sát thật chính xác vị trí bom, sau đó đánh dấu cho đồng đội tìm đến phá gỡ. Một lần, một quả bom nổ chậm nằm ngay giữa mặt đường nhưng chưa xác định được thời điểm an toàn. Không ai dám đi qua, đoàn dân công bị ùn lại, tuyến vận chuyển có nguy cơ bị tắc nghẽn.

Trong tình thế ấy, Phan Tư lại chọn cách đối mặt với hiểm nguy. Anh đốt một ngọn đuốc rồi đứng ngay bên cạnh quả bom, biến mình thành dấu hiệu dẫn đường để từng đoàn dân công có thể nhận biết vị trí nguy hiểm và nhanh chóng vượt qua an toàn. Giữa con đường đầy bom đạn, ánh đuốc trong tay người chiến sĩ công binh trở thành một điểm sáng dẫn lối cho những đoàn người đang ngày đêm đưa lương thực, đạn dược về mặt trận.

Những con đường ấy không chỉ được mở bằng cuốc, xẻng hay thuốc nổ, mà còn được giữ thông bằng sự gan dạ của những người lính công binh như Phan Tư. Địch phá đường, ta lại sửa. Bom đánh sập đoạn này, ta mở đoạn khác. Đường bị lầy, ta chống lầy. Bom chưa nổ, ta phá bom. Tất cả chỉ nhằm một mục tiêu: không để dòng tiếp tế ra mặt trận bị ngừng lại.

Trong thông báo khen thưởng của Bộ chỉ huy Chiến dịch đã ghi nhận công lao của những người lính mở đường bằng một lời đánh giá đầy ý nghĩa: “Đội công binh mở đường thắng lợi suốt mùa hè không nghỉ, giữ vững giao thông, không có con đường ấy, không có Chiến dịch này”.

Phan Tư chính là một trong những người đã góp sức làm nên những con đường ấy. Từ dòng Nậm Na lạnh buốt đến những trọng điểm ngập trong bom đạn, anh luôn có mặt ở nơi khó khăn nhất, nguy hiểm nhất. Không trực tiếp đứng trong những trận đánh giành từng cứ điểm, nhưng mỗi mét đường được khai thông, mỗi quả bom được phá bỏ, mỗi chuyến hàng vượt qua an toàn đều góp phần đưa sức mạnh hậu cần đến với những người lính đang chiến đấu ở lòng chảo Điện Biên.

Với những chiến công và đóng góp đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến, ngày 31-8-1955, Phan Tư được Chủ tịch nước tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên tuổi của người chiến sĩ công binh quê Nghệ An gắn liền với những con đường vượt núi, những dòng sông dữ và những trọng điểm bom đạn, nơi anh cùng đồng đội đã âm thầm giữ cho mạch giao thông không bao giờ ngừng chảy về phía chiến trường.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn