Phan Tư – người phá thác mở đường trên sông Nậm Na
Giữa dòng Nậm Na rét buốt, Phan Tư ôm khối nổ 6 kg lặn xuống phá thác, góp phần mở tuyến vận chuyển gạo và vũ khí phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ được quyết định trên các cứ điểm mà còn trên những tuyến vận tải đầy thác ghềnh và bom nổ chậm. Trên sông Nậm Na, chiến sĩ công binh Phan Tư đã dầm mình trong nước rét, tìm cách phá đá mở luồng để những bè gạo, vũ khí từ biên giới Việt – Trung có thể về tới Lai Châu và tiếp tục ra mặt trận.
Phan Tư sinh năm 1931, quê ở xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Tháng 6/1951, ông nhập ngũ vào Trung đội 51, Đại đội 124, Tiểu đoàn 555 thuộc Cục Công binh. Từ khi nhập ngũ đến tháng 5/1954, ông liên tục tham gia các chiến dịch lớn ở Bắc Bộ, đảm nhiệm những công việc nặng nhọc và nguy hiểm như mở đường, phá bom, phá thác.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị Phan Tư nhận nhiệm vụ mở tuyến vận chuyển trên sông Nậm Na. Tháng 1/1954, lực lượng hậu cần từng đưa hơn 250 bè mảng qua đoạn sông này, nhưng khoảng 200 bè bị vỡ và gạo chìm. Nguyên nhân là trên hơn 70 km đường sông có tới 163 thác lớn nhỏ, nước chảy mạnh, đá ngầm dày đặc.
Đơn vị chọn thác Chiềng Nưa để phá thử. Muốn thông luồng, công binh phải đặt thuốc nổ vào đúng khe đá dưới nước, nhưng khối nổ dễ bị dòng chảy cuốn đi và ngòi có thể bị ướt. Phan Tư xung phong nghiên cứu trước. Sau nhiều lần lặn xuống tìm vị trí, ông ôm một khối thuốc nổ nặng 6 kg đã đốt ngòi, nhoài người ấn chặt vào kẽ đá rồi lập tức ngoi lên bơi vào bờ.
Ngay khi ông vừa thoát khỏi vùng nguy hiểm, bộc phá phát nổ, phá tung phần đá chắn và mở được luồng qua Chiềng Nưa. Từ kinh nghiệm ấy, Phan Tư trực tiếp phá thêm bốn thác để hoàn thiện cách làm. Nhận thấy phương pháp đốt ngòi rồi lặn xuống quá nguy hiểm, ông tìm cách gói thuốc nổ trong lá dong như gói bánh chưng, buộc thật chặt để thuốc không bị ngấm nước. Sáng kiến đơn giản này giúp việc đặt bộc phá an toàn và hiệu quả hơn.
Trung đội chia thành nhiều tiểu đội, mỗi tiểu đội phụ trách khoảng 25 km sông với chừng 30 thác. Trong thời tiết rét buốt, các chiến sĩ phải ngâm mình dưới nước cả ngày, ăn không đủ gạo và ngủ trong hang đá. Có thác dữ, Phan Tư phải thử tới lần thứ mười hai mới buộc được thuốc nổ vào đúng vị trí.
Một lần, đơn vị vừa nhận 250 kg thuốc nổ, xếp trên chiếc bè đã neo kỹ thì mưa to, gió mạnh làm đứt dây. Chiếc bè trôi mất trong đêm. Phan Tư cùng đồng đội lập tức đi tìm, lần theo dòng nước tối và cuối cùng kéo được bè trở lại. Sau gần hai tháng, trung đội hoàn thành nhiệm vụ, góp phần tạo tuyến vận chuyển đường sông phục vụ chiến dịch.
Sang tháng 4/1954, khi mưa lớn làm nhiều đoạn đường sụt lở và lầy lội, trung đội chuyển sang chống lầy, phá bom nổ chậm. Tại mỗi trọng điểm, máy bay Pháp có ngày ném từ 160 đến 200 quả bom. Trong một đợt đánh phá liên tục mười ngày, Phan Tư nằm ngay trên mặt đường để quan sát vị trí bom rơi khi máy bay quay lại, giúp đồng đội đánh dấu và tháo gỡ chính xác.
Có quả bom nổ chậm nằm giữa đường, không ai biết lúc nào sẽ phát nổ, khiến đoàn dân công bị ùn lại. Phan Tư đốt đuốc đứng cạnh quả bom làm dấu, hướng dẫn từng người nhanh chóng vượt qua khu vực nguy hiểm. Hành động ấy đặt chính ông vào rủi ro để giữ cho dòng người và hàng hóa không bị ngừng lại.
Ngày 31/8/1955, Phan Tư được tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông được ghi nhận là người Anh hùng đầu tiên của Bộ đội Công binh. Câu chuyện phá thác Nậm Na cho thấy đôi khi một chiến thắng lớn bắt đầu từ một luồng sông được khai thông, một bao gạo không còn chìm giữa ghềnh và sự quả cảm của người lính âm thầm mở đường.



