Cựu chiến binh

phần tuổi trẻ đã gửi lại giữa núi rừng Trường Sơn

Ông em sinh ra và lớn lên ở xóm Mộc Đức, xã Giao Ninh, tỉnh Ninh Bình – một vùng quê thuần nông với những cánh đồng chiêm trũng và con đường làng nhỏ quanh co. Tuổi thơ của ông gắn với ruộng đồng, trâu bò và những buổi tối nghe người lớn kể chuyện bộ đội hành quân, chuyện miền Nam còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Đầu năm 1971, khi vừa tròn 19 tuổi, ông nhận giấy gọi nhập ngũ. Hôm ấy, trống xã vang lên từ sáng sớm, bà con trong xóm tập trung ở sân hợp tác xã để tiễn thanh niên lên đường. Ông

Ninh Bình10/05/2026Nguyễn Văn Tuyên (chi đoàn Mộc Đức xã giao Ninh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông em sinh ra và lớn lên ở xóm Mộc Đức, xã Giao Ninh, tỉnh Ninh Bình – một vùng quê thuần nông với những cánh đồng chiêm trũng và con đường làng nhỏ quanh co. Tuổi thơ của ông gắn với ruộng đồng, trâu bò và những buổi tối nghe người lớn kể chuyện bộ đội hành quân, chuyện miền Nam còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Đầu năm 1971, khi vừa tròn 19 tuổi, ông nhận giấy gọi nhập ngũ. Hôm ấy, trống xã vang lên từ sáng sớm, bà con trong xóm tập trung ở sân hợp tác xã để tiễn thanh niên lên đường. Ông nhập ngũ cùng vài người bạn thân trong xóm Mộc Đức và một số thanh niên của xã Giao Ninh. Ai cũng khoác ba lô, mặc bộ quân phục còn mới, trong lòng vừa hồi hộp vừa tự hào vì sắp được góp sức cho Tổ quốc.

Sau ngày giao quân, ông được đưa ra điểm tập trung của huyện rồi chuyển về đơn vị huấn luyện ở miền Bắc. Những tháng đầu quân ngũ là quãng thời gian rèn luyện gian khổ: sáng chạy bền, trưa học điều lệnh, chiều tập bắn và đào công sự, tối học chính trị và nghe phổ biến nhiệm vụ. Có lúc đôi chân phồng rộp vì hành quân dài ngày, vai mỏi vì mang ba lô nặng, nhưng ông và đồng đội vẫn cố gắng vượt qua. Nhờ sức khỏe tốt và nhanh nhẹn, ông được phân vào lực lượng hậu cần – vận tải, chuyên chở lương thực, vũ khí và đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam.

Cuối năm 1971, ông theo đơn vị vượt dãy Trường Sơn. Con đường hành quân không phải là đường nhựa bằng phẳng mà là những lối mòn xuyên rừng, vượt suối, băng đèo. Đơn vị của ông đóng quân rải rác trong rừng sâu để tránh sự phát hiện của máy bay địch. Ban ngày, xe được che kín bằng cành lá, ban đêm mới xuất phát. Mỗi chuyến đi kéo dài nhiều ngày, có khi phải dừng lại giữa rừng chờ thông đường vì bom vừa đánh xong. Ông đã đi qua nhiều địa bàn hiểm yếu, nơi địch tập trung đánh phá dữ dội nhằm cắt đứt tuyến chi viện.Những trận chiến mà ông trải qua không phải là xung phong trực diện như bộ binh, nhưng mức độ nguy hiểm không hề kém. Có lần, đoàn xe đang vượt dốc thì bị máy bay trinh sát phát hiện. Chỉ trong chốc lát, bom trút xuống phía trước và phía sau, đất đá bắn lên mù mịt. Ông và đồng đội phải nhanh chóng lái xe tạt vào rừng, bỏ xe xuống hầm trú ẩn tạm thời. Khi tiếng bom ngớt, mọi người quay lại kiểm tra phương tiện, có chiếc bị sức ép làm vỡ kính, có chiếc thùng hàng bị móp méo. Tuy vậy, vì hàng hóa chủ yếu là đạn và thuốc men cho mặt trận nên đơn vị vẫn cố sửa chữa ngay trong đêm để tiếp tục hành trình.

Có những ngày, xe không thể đi qua vì đường bị phá hủy, ông cùng đồng đội phải gùi từng bao gạo, từng thùng đạn vượt qua đoạn dốc trơn trượt. Vắt bám đầy ống quần, muỗi rừng vo ve suốt đêm. Bữa ăn thường chỉ có cơm độn sắn, muối vừng và rau rừng, nước uống lấy từ suối. Gian khổ là thế, nhưng điều khiến ông nhớ nhất vẫn là những lần mất mát. Một số đồng đội bị bom vùi khi đang san đường, có người trúng mảnh bom trong lúc bốc hàng. Những tấm tăng phủ tạm lên thân thể bạn bè giữa rừng sâu khiến ông thấm thía hơn ý nghĩa của hai chữ “hy sinh”.

Trong một lần làm nhiệm vụ ở khu vực bị đánh phá dữ dội, một quả bom nổ gần nơi ông đang trú ẩn. Sức ép lớn khiến tai ông ù đi, sau đó thính lực giảm dần. Dù bị thương, ông vẫn tiếp tục phục vụ trong đơn vị cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Năm 1975, khi nghe tin chiến thắng, cả đơn vị ôm chầm lấy nhau giữa rừng Trường Sơn. Niềm vui ấy xen lẫn nỗi bùi ngùi khi nghĩ về những người đã không thể trở về.Ngày trở lại làng ông không còn là chàng trai khỏe mạnh như ngày lên đường. Tai nghe kém, sức khỏe suy giảm, cuộc sống thời bình gặp nhiều khó khăn. Một trận bão lớn sau này đã làm sập căn nhà nhỏ, cuốn trôi nhiều giấy tờ và kỷ vật chiến tranh. Thứ ông giữ lại được chỉ là vài tấm huân chương và ký ức không thể phai mờ. Dù vậy, ông chưa bao giờ than trách. Mỗi khi kể chuyện cho con cháu, ông thường nói: “Còn được trở về là may mắn rồi”. Với ông, quãng đời nhập ngũ không chỉ là nghĩa vụ của một người công dân mà còn là phần tuổi trẻ đã gửi lại giữa núi rừng Trường Sơn – nơi ghi dấu tinh thần hy sinh thầm lặng của những người lính quê xóm Mộc Đức trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn