Phan Văn Bảy (1910-1942)
Ông Phan Văn Bảy, sinh ngày 01/01/1910 tại làng Tân Dương, tổng An Phong, quận Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).
Năm 1926, ông trúng tuyển vào trường trung học Cần Thơ (collège de Cần Thơ) với hạng ưu, nên được cấp học bổng. Tại đây, ông tham gia đầu tranh đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh, đòi cải thiện chế độ học đường nên bị đuổi học. Nhờ gia đình và giáo viên đấu tranh kiên nghị nên được trở lại tiếp tục học, song phải lưu ban. Năm 1927, ông được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, ông càng tích cực tham gia đâu tranh bải khoá. Để dập tắt phong trào, nhà cẩm quyền Pháp quyết định đuổi học 20 học sinh. Riêng Phan Văn Bảy bị cầm không được học bất cứ trường nào ở Nam Kỳ và phải bồi thường gấp đôi tiền chi phí của năm học.
Trờ về quê Tân Dương, ông tích cực tuyên
truyền vận động cách mạng và tìm cách liên hệ với tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Cao Lãnh. Năm 1929, chỉ hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chíHội được thành lập ở Tân Dương. Sau ngày 3 tháng 2 năm 1930, Chi bộ Đảng Cộng sản xã Tân Dương được thành lập, ông được cử làm Bíthư. Từ đó, ông cùng Chỉ bộ tích cực hoạt động, tuyên truyền, tổ chức quần chúng vào các đoàn thể cách mạng như Nông hội đó, Công hội đỏ...
Ngày 13/5/1930, nhân dịp Chánh chủ tỉnh Sa Đéc (Esquivillon) đền Tân Dương, ông trực tiếp cẩm đơn và cùng hơn 700 nông dân Tân Dương và vùng lân cận biểu tỉnh, đầu tranh chồng thuê, chồng xâu, thả những người bị bắt... Chánh chủ tỉnh không giải quyết và định quay về Sa Đéc, ông lành đạo quần chúng nhảy xuống nước kéo canô lên cạn. Trước sức đầu tranh mạnh của quần chúng, Chánh chủ tỉnh buộc phải hứa giải quyết yêu sách.
Sau đó, ông bị Pháp bắt và bị Tòa Đại hình tỉnh Vĩnh Long kết án 5 năm tù, đày đi Côn Đảo (tháng 5/1931 ) Không cam tâm nằm trong tù ngục, ông cùng 5 đồng chí tổ chức đóng bè vượt ngục, nhưng sóng to, gió lớn đưa chiếc bè trôi giạt vào bờ biển Xiêm La (Thái Lan). Được ngư dân Việt kiều giúp đỡ, ông tìm cách trở về Tổ quốc. Việc bị lộ, cuối năm 1932, cảnh sát Xiêm theo dõi bắt cả 5 người giao cho Pháp giải về Sài Gòn, rồi lại bị đày ra Côn Đảo.
Bị coi là cầm đầu tù vượt ngục nên ông bị giam vào khảm tối và bất lao động khổ sai. Đá rơi làm dập nát một bàn chân, phải đi cà nhắc, từ đó anh em từ đặt cho cái tên "Bảy cùi" để kỷ niệm mỗi hận thù những ngày bị giam cầm trong nhà tù Côn Đảo.
Đầu năm 1936, mãn hạn tù nhưng nhà cẩm quyền Pháp cầm không cho ông về Sa Đéc, Cần Thơ cư trú mà buộc phải đi biệt xứ.
Xuồng Vĩnh Long sinh sống, bắt liên lạc với Đảng, ông tiếp tục hoạt động, rồi được phân công về Bạc Liêu. Năm 1937, được điều về Cần Thơ và được bầu vào Liên Tỉnh uỷ Cần Thơ (1938). Cuối năm 1939 đầu năm 1940, ông được điều xuồng Trà Vinh, làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ.
Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), ông được Liên Tỉnh uỷ đưa xuống U Minh Thượng (Cà Mau) để sản xuất vũ khí, rồi được cử làm Phó Bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ kiêm Bí thư Liên Tỉnh uỷ Hậu Giang.
Ngày (5/6) / 1941 Phan Văn Bảy cùng một số đồng chí trong Liên Tỉnh uỷ. Xứ uỷ lại bị giặc bắt và bị kết án tử hình.
Ngày (22/7) / 1942 ông hy sinh tại Hóc Môn.



