Phan Văn Bộ (1908 – ?)
Ông Phan Văn Bộ sinh năm 1908 tại thôn Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp), là con trai thứ tám của Hội đồng Phủ Phan Văn Được – Trà Giang Thôn Lão và là em ruột của luật sư, nhà báo nổi tiếng Thần Việt Phan Văn Thiết (1902 – 1987).
Phan Văn Bộ (1908 – ?)
Ông Phan Văn Bộ sinh năm 1908 tại thôn Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp), là con trai thứ tám của Hội đồng Phủ Phan Văn Được – Trà Giang Thôn Lão và là em ruột của luật sư, nhà báo nổi tiếng Thần Việt Phan Văn Thiết (1902 – 1987).
Theo học Collège Mỹ Tho, ông đỗ bằng Thành Chung năm 1928. Sau đó, ông làm thông ngôn Sở Tư pháp (1929) và chính thức bước vào ngành này từ năm 1934 với chức danh tham tá, lục sự, chánh lục sự.
Lúc thiếu thời, học tại nhà với thân phụ, ông biết làm thơ. Thơ ông thể cũ, tứ mới, tân cựu dung hòa, đề cao nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, rút đề tài trong nhiều lĩnh vực, làm theo thể Đường luật thất ngôn bát cú, “lời bình dị, chỉ dùng tiếng nói mới lạ khi nào cần thiết, cho quần chúng dễ đọc”, như ông từng tâm sự. Với bút hiệu Lãng Ba, ông đã xuất bản thi phẩm: Hoa tàn (1956), Hoa nở (1958), Hoa cười (1960), Hoa lan (1962).
Trên tờ nhật báo Tiếng dội miền Nam số tân niên 1963, nhà báo lão thành Trần Tấn Quốc (1914 – 1987) đã có bài nhận xét:
“Tôi tựa hồ đã bị ông Lãng Ba thôi miên và dẫn dắt từ Việt sang Tàu, từ Á sang Âu, qua những cánh trời, bể, non, rừng, gió, trăng, mây, nước; nghe bao bản nhạc yêu đương, bao khúc đoạn trường, bao bài ái quốc; gặp những trang anh hùng, liệt nữ, nữ sĩ, văn nhân, khách lãng chinh, dân sơn cước, phường giang ninh; đắng trung thành, kẻ may duyên, người xấu số…; chứng kiến nhiều trạng thái gia đình, tình hình xã hội, thời cuộc quốc tế; ca tụng thuần phong, chê cười tệ tục; duyệt lại tư tưởng Đông – Tây; sưu nghiệm kim; luận đến việc đời, bàn về lẽ đạo…”
Thi sĩ Lãng Ba có bài thơ ca ngợi công đức ông chủ chợ Cao Lãnh Đỗ Công Tường, đền thờ nằm ở trung tâm chợ Cao Lãnh:
Muôn miệng như nhau đã nói rành:
Cầu đường là chức, Lãnh là danh.
Lập làng khó nhọc, công vừa đứt,
Cất chợ chăm nom, việc mới thành.
Dân đứng giặc trời, cam thọ tử,
Cụ đền nợ nước, quyết hy sinh.
Thoát nạn, bà tánh lo thờ phụng,
Miếu đổ ngàn thu rạng tiếng lành.



