Bài viết
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Túc sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê ở xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Khi hy sinh, đồng chí là Đại úy, Đại đội phó Đại đội 1, Trung đoàn 923, Sư đoàn 371 Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam – một trong những phi công tiêu biểu của Không quân nhân dân Việt Nam trong những năm đầu đối đầu trực tiếp với không quân Mỹ.Được tuyển chọn và đào tạo lái máy bay chiến đấu ở nước ngoài, tháng 7 năm 1963, Phan Văn Túc trở về nước, trực tiếp lái máy bay phản lực MiG-17, nhanh chóng hòa nhập với đơn vị, tích cực học tập, rèn luyện để làm chủ vững chắc khoa học kỹ thuật hàng không quân sự. Trong điều kiện lực lượng không quân ta còn non trẻ, trang bị hạn chế, đồng chí luôn nêu cao ý chí quyết tâm, tinh thần kỷ luật và bản lĩnh chiến đấu vững vàng.Ngày 3 tháng 4 năm 1965, trong trận không chiến đầu tiên trên vùng trời Hàm Rồng (Thanh Hóa), Phan Văn Túc cùng các phi công Phạm Ngọc Lan, Hồ Văn Quỳ, Trần Minh Phương xuất kích chiến đấu, bắn rơi 2 máy bay F8U của không quân Mỹ, riêng đồng chí trực tiếp bắn rơi 1 chiếc. Ngay ngày hôm sau, 4 tháng 4 năm 1965, phát huy thắng lợi, đồng chí tiếp tục cùng biên đội MiG-17 gồm Trần Hanh, Phạm Giấy, Lê Minh Huân, Trần Nguyên Năm xuất kích, bắn rơi 2 máy bay F-105 trên cùng vùng trời Hàm Rồng. Những chiến công liên tiếp trong hai ngày lịch sử này có ý nghĩa đặc biệt to lớn, khẳng định bản lĩnh và khả năng chiến đấu của bộ đội không quân non trẻ, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần “đã xuất kích là đánh thắng”.Ngày 21 tháng 6 năm 1966, tại khu vực Kép (Hà Bắc), Phan Văn Túc cùng biên đội tiếp tục bắn rơi 2 máy bay F8 của địch, trong đó đồng chí trực tiếp hạ 1 chiếc. Chỉ tám ngày sau, ngày 29 tháng 6 năm 1966, trên vùng trời Bắc Thái, đồng chí cùng biên đội chiến đấu mưu trí, dũng cảm, bắn rơi tại chỗ 2 máy bay F-105 của không quân Mỹ, góp phần bảo vệ vững chắc bầu trời miền Bắc và các mục tiêu chiến lược quan trọng.Trải qua nhiều trận không chiến ác liệt, luôn ở tuyến đầu, Phan Văn Túc thể hiện rõ phẩm chất của người phi công cách mạng: bình tĩnh, quyết đoán, gan dạ và tuyệt đối trung thành với Tổ quốc. Ngày 31 tháng 12 năm 1967, trong khi làm nhiệm vụ chiến đấu, đồng chí đã anh dũng hy sinh, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp bảo vệ bầu trời Tổ quốc.Với những thành tích chiến đấu đặc biệt xuất sắc, đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 28 tháng 4 năm 2000, đồng chí được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.