Khác

Phan Xích Long – Người Khơi Dậy Tinh Thần Chống Pháp Ở Nam Bộ

An Giang08/06/2026DƯƠNG HÀ PHƯƠNG DUY (xã Mỹ Hòa Hưng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phan Xích Long (tên thật là Phan Phát Sanh, 1893–1916) là thủ lĩnh phong trào hội kín chống Pháp mang màu sắc tôn giáo tại Nam Kỳ vào đầu thế kỷ 20. Ông tự xưng là "hoàng đế", dựa vào các yếu tố tâm linh và màu sắc thần bí để tập hợp lực lượng. Năm sinh & Quê quán: Sinh năm 1893 tại Chợ Lớn (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh).

Thân thế: Là con trai của ông Phan Núi – một cảnh sát gốc Hoa phục vụ cho chính quyền thực dân Pháp.

Hoạt động cốt lõi: Lợi dụng tín ngưỡng dân gian và các hội kín, ông xưng là con của vua Hàm Nghi nhằm hiệu triệu quần chúng, tự xưng Hoàng đế. Ông tổ chức lực lượng mặc quần áo trắng, đeo bùa chú, tiến hành các cuộc bạo động chống Pháp.

Phan Xích Long sinh vào cuối thế kỷ XIX trong một gia đình nghèo ở Nam Bộ. Từ nhỏ, ông đã chứng kiến cảnh người dân bị thực dân Pháp áp bức nặng nề. Ruộng đất bị chiếm đoạt, người dân phải đóng nhiều loại thuế vô lý và cuộc sống vô cùng cực khổ. Chính điều đó đã khiến ông nuôi ý chí chống ngoại xâm từ rất sớm. Khi trưởng thành, ông đi nhiều nơi ở miền Tây Nam Bộ để vận động nhân dân đứng lên giành lại độc lập. Ông thường nói với mọi người rằng nếu dân tộc không đoàn kết thì sẽ mãi sống trong cảnh nô lệ. Lời nói mạnh mẽ của ông đã khiến nhiều thanh niên yêu nước cảm phục và đi theo phong trào chống Pháp. Một trong những hoạt động nổi bật nhất của Phan Xích Long là tổ chức các cuộc vận động bí mật tại Sài Gòn và nhiều tỉnh Nam Bộ. Ông đã quy tụ được nhiều người dân lao động, nông dân và thanh niên tham gia phong trào. Dù điều kiện hoạt động vô cùng khó khăn, luôn bị mật thám theo dõi và truy bắt, ông vẫn không hề nao núng. Có lần, ông cải trang thành người dân thường để tránh sự truy lùng của thực dân. Ông bí mật gặp gỡ các cơ sở cách mạng vào ban đêm, vừa tuyên truyền tinh thần yêu nước vừa xây dựng lực lượng đấu tranh. Nhiều người dân miền Tây lúc đó xem ông như biểu tượng của lòng quả cảm và tinh thần không chịu khuất phục trước kẻ thù.Sau này, khi bị thực dân Pháp bắt giam, ông vẫn giữ thái độ hiên ngang. Dù bị tra khảo rất khắc nghiệt, ông không khai báo đồng đội. Tinh thần bất khuất ấy đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho phong trào yêu nước ở Nam Bộ, trong đó có nhiều thanh niên tại An Giang, Châu Đốc và Tân Châu.

Quá trình hoạt động

Phan Phát Sanh là con trai của Phan Núi, một viên chức cảnh sát gốc Hoa ở Chợ Lớn. Thời nhỏ, Phan Phát Sanh lười học, làm bồi[1] cho Pháp. Sau rời quê nhà để đi rong chơi, Phan Phát Sanh đặt cơ sở đầu tiên ở Cần Vọt (Cao Miên). Ở đó, nhờ tiền quyên góp, ông cho cất một ngôi chùa ở Bảy Núi (Thất Sơn) để làm nơi tụ họp, lập hội kín, chế tạo lựu đạn, trái phá, in truyền đơn đưa ra tuyên cáo Phản Pháp phục Nam, kêu gọi mọi người chống Pháp...[2]

Tháng 7 năm 1911, tại Tân Châu, Châu Đốc, Phan Phát Sanh gặp Nguyễn Hữu Trí (Hai Trí) và Nguyễn Văn Hiệp để cùng bàn lập hội kín và khởi nghĩa chống Pháp. Trí và Hiệp rước một ông già tên là Nguyễn Văn Kế ở làng Đa Phước (Chợ Lớn) và tuyên bố đây là một vị "Phật sống". Chưa được bao lâu, chức dịch làng Đa Phước đã bắt cả ba người nộp cho quan Tham biện. Tuy nhiên, do không có chứng cớ buộc tội nên cả ba đã được thả. Tháng 11 năm 1911, "Phật sống" được đưa về thành phố Chợ Lớn, ngụ ở đường Thuận Kiều. Tại đây, Hai Trí đã dùng "Phật sống" để thu hút mọi người lui tới nhằm quyên góp tiền bạc.

Tháng 2 năm 1912, "Phật sống" Nguyễn Văn Kế qua đời. Nhân cơ hội này, Nguyễn Hữu Trí lập mưu nói rằng "Phật sống" dạy phải tôn Phan Phát Sanh lên làm hoàng đế. Hai Trí và Hiệp đã lãnh trách nhiệm qua Battambang đón Phan Phát Sanh về Chợ Lớn để lên ngôi, tự xưng mình là Phan Xích Long, con vua Hàm Nghi. Phan Xích Long và Nguyễn Hữu Trí định rằng sẽ dùng lực lượng lớn (đa phần là hội viên hội kín ở Chợ Lớn và Long An) để đánh chiếm các cơ quan đầu não của Pháp tại Sài Gòn. Theo đó, nhiều hội kín ở các tỉnh cũng sẽ nổi dậy giành lấy chính quyền. Chuẩn bị xong, đêm 23 rạng sáng 24 tháng 3 năm 1913, ông cho người đặt 8 trái bom tự tạo có hẹn giờ ở một số cơ quan chính quyền tại Sài Gòn và Chợ Lớn, đồng thời chia nhau đi rải truyền đơn và dán bản hịch trong thành phố. Chẳng may chưa tới giờ bom nổ thì quân Pháp đã phát hiện được. Nhà cầm quyền liền sai quân đi tháo gỡ và lùng bắt quân khởi nghĩa. Không nghe tiếng bom nổ, nhiều toán quân đã kịp rút đi. Tuy nhiên, quân Pháp vẫn bắt được một số đông khi họ đang đi vào Chợ Lớn, vì kiểu đồng phục "quần đen, áo trắng, khăn trắng quấn cổ" mặc dù tay không cầm vũ khí.

Kết cuộc, Nguyễn Hữu Trí chạy thoát, Phan Xích Long chạy ra Phan Thiết và bị bắt ở đó, bị đem về giam ở Khám lớn Sài Gòn. Từ ngày ngày 5 đến ngày 12 tháng 11 năm 1913, Tòa án Sài Gòn xử tha bổng 54 người, kêu án 57 người (đều là người Việt ở Chợ Lớn và Long An, chỉ có 1 người Hoa kiều),[3] trong đó có sáu người bị án chung thân khổ sai là: Phan Xích Long, Nguyễn Tri, Nguyễn Hiệp (án hiện diện), Nguyễn Màng, Trương Phước, Nguyễn Ngọ (không bắt được, bị án khiếm diện).[4]

Lãnh án, Phan Xích Long bị giam cầm ở Khám lớn Sài Gòn. Việc làm của ông khiến "chấn động những trái tim yêu nước và giới giang hồ mã thượng".[5] Năm 1916, nhân Pháp bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, khoảng 300 hội viên của các hội kín ở Gia Định, Chợ Lớn,[6] Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Cần Giuộc, Cần Đước..., tìm cách phá ngục cứu Phan Xích Long. Sau khi chuẩn bị xong, 3 giờ sáng ngày 15 tháng 2 năm 1916,[7] với khẩu hiệu "Cứu Đại ca" (chỉ Phan Xích Long), tất cả hội viên do Nguyễn Hữu Trí đứng đầu, từ hàng chục thuyền buôn đang đậu trên sông cầu Ông Lãnh, giở khoang, vứt bỏ lá ngụy trang, nhảy lên bờ với áo đen, quần trắng, khăn trắng quấn cổ, cổ mang phù chú, tay cầm đủ thứ binh khí (không có súng) chia làm ba nhóm xông lên tấn công dinh Thống đốc và Khám lớn. Gần tới nơi, ba nhóm nhập lại rồi chia ra thành hai, nhưng cả hai cánh đều bị quân Pháp đánh đuổi. Quân Pháp giết chết tại trận 6 người (có Nguyễn Hữu Trí), làm bị thương nhiều người khác. Và bất kỳ ai mặc quần đen áo trắng buổi sáng ấy, đang ở trong khu vực xảy ra vụ tấn công, đều bị bắt nhốt. Lúc bấy giờ, ngoài lực lượng tấn công, còn có các lực lượng khác ở xung quanh Sài Gòn chờ phối hợp, nhưng vì không thấy có hiệu lệnh như đã định nên rút lui, nhờ vậy mà nhiều người đã đào thoát được.

Sau đó, tòa kết tội tử hình 38 người tại Đồng Tập Trận[8] vào ngày 22 tháng 2 năm 1916, trong đó có Phan Xích Long. Ngày 16 tháng 3 năm 1916, tử hình thêm 13 người nữa, cũng tại địa điểm trên. Tổng cộng sau 2 lần bắn và 6 người đã chết trước, 57 người bị bắn trong đợt sau.[9] Tất cả đều được chôn tại Nghĩa địa Đất Thánh Chà ở giữa đường Võ Thị Sáu và chợ Tân Định hiện nay. Khi ấy, Phan Xích Long mới 23 tuổi.[10]

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn