Bài viết

Phật giáo không chỉ tỏa sáng ở chốn thiền môn mà còn hiển lộ nơi chiến trường - khi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc.

Đại đức Thích Pháp Lữ tên thật là Đinh Thế Hinh sinh năm 1927 tại làng Liêu Thượng, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, ông là con út trong gia đình có 8 người con, gia đình nghèo nhưng sùng đạo, nhiều đời kính ngưỡng Phật pháp.

Gia Lai04/05/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong hành trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, hình ảnh những vị tu sĩ Phật giáo không chỉ tỏa sáng ở chốn thiền môn mà còn hiển lộ nơi chiến trường - khi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Phật giáo Việt Nam không chỉ là đạo lý, là giáo lý, mà còn là hành động yêu nước nhập thế. Và giữa biết bao gương mặt đã viết nên huyền thoại “cởi áo cà sa, khoác chiến bào” có Đại đức Thích Pháp Lữ, thế danh Đinh Thế Hinh. Đại đức Thích Pháp Lữ tên thật là Đinh Thế Hinh sinh năm 1927 tại làng Liêu Thượng, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, ông là con út trong gia đình có 8 người con, gia đình nghèo nhưng sùng đạo, nhiều đời kính ngưỡng Phật pháp. Vì là con trai duy nhất, ông được kỳ vọng sẽ thay cha gìn giữ nếp nhà và đạo lý. Năm 13 tuổi, ông được cha mẹ gửi lên chùa Cổ Lễ - một trong những ngôi chùa cổ kính bậc nhất vùng Đồng bằng Bắc Bộ để tu học, pháp danh được đặt là Thích Pháp Lữ, thể hiện chí nguyện hành trì giáo pháp, sống cuộc đời thanh tịnh. Năm 1946, chiến tranh lan rộng, quân Pháp chiếm đóng trở lại nhiều vùng ở miền Bắc, chùa Cổ Lễ - linh thiêng và yên bình - cũng không tránh khỏi vòng vây kẻ thù, những người tu hành bị buộc phải sơ tán.Trước việc đất nước đang nằm ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, lúc này Trụ trì của chùa Cổ Lễ là hòa thượng Thích Thế Long, đã cho gọi Đại đức Thích Pháp Lữ và Đại đức Thích Trí Không lên thư phòng, hỏi: “Chúng ta là người xuất gia, phụng đạo nhưng đều mang dòng máu Tiên - Rồng. Quốc gia lâm nguy, Phật pháp bất ly thế gian pháp, các con có sáng kiến gì không?”. Đại đức Thích Pháp Lữ và Đại đức Thích Trí Không mạnh dạn đáp lời: “Bạch sư phụ! Việc đời loạn, nghiệp tu hành cũng không thể yên ổn. Con nghĩ, trong giới phật tử rất nhiều tăng ni có tâm huyết xả thân cứu nước. Mong sư phụ làm lễ "giải pháp y", thành lập đội nghĩa sĩ phật tử, cho phép các tăng ni tạm rời cửa thiền ra chiến trường đánh giặc”. Ngày 27/2/1947, nhà chùa đã làm lễ “cởi áo cà sa khoác chiến bào” cho 27 nhà sư tham gia kháng chiến chống Pháp. Trong cuốn Lịch sử Phật giáo huyện Trực Ninh đã viết rất rõ về buổi lễ đặc biệt, hào hùng này. Đoàn nhà sư khoác áo cà sa, chân đất, đầu trần, tay cầm mũ vải, xếp hàng ba, cuối cùng là 2 ni cô Đàm Nhung và Đàm Lân. Sau đấy là bài phát nguyện cho 27 nhà sư. “Cởi áo cà sa khoác chiến bào Tuốt gươm, bồng súng diệt binh đao Ra đi quyết rửa thù cứu nước Vì nghĩa quên thân, hiến máu đào” Sau khi nhập ngũ, Thích Pháp Lữ (nay là đồng chí Đinh Thế Hinh) được phân công làm Đội trưởng Đội Võ trang tuyên truyền, phụ trách khu vực Bùi Chu, Xuân Trường - những vùng đất Phật giáo sâu đậm. Đội của ông hoạt động bí mật trong vùng địch kiểm soát, vừa tuyên truyền cho Cách mạng, vận động Nhân dân, vừa tiêu diệt những phần tử phản động, bảo vệ cơ sở. Sau đó, ông tiếp tục hoạt động cho đến ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, được kết nạp vào Đảng, tiếp tục học tập và trưởng thành trong quân đội. Khi cuộc kháng chiến\ chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, ông trở thành Chính ủy Trung đoàn 542 - Bộ Tư lệnh Trường Sơn, đơn vị đóng quân tại A Lưới, Thừa Thiên - Huế. Năm 1972, trong một trận ném bom của máy bay B-52, chỉ huy sở của đơn vị bị đánh sập, hàng chục cán bộ, chiến sĩ hy sinh, Chính ủy Đinh Thế Hinh bị vùi trong đất đá.

Tưởng ông đã hy sinh, đồng đội chuẩn bị khâm liệm. Nhưng kỳ diệu thay, sau nhiều giờ

hôn mê, ông bất ngờ tỉnh dậy và dùng hết sức đạp tung tấm nylon phủ trên người. Mọi

người òa khóc khi thấy ông vẫn còn sống.

Sau ba ngày cấp cứu, ông hồi phục và trở lại đơn vị. Ký ức đau thương đó trở thành

dấu ấn không thể phai mờ trong cuộc đời binh nghiệp của vị sư xuất trận.

Trong số 27 nhà sư có 12 nhà sư hy sinh tại các mặt trận chiến trường, có người sau

chiến tranh trở về chốn thiền môn, có người ở lại quân ngũ. Sau ngày đất nước hoàn toàn

thống nhất, Đại tá Đinh Thế Hinh nghỉ hưu, nhưng vẫn tiếp tục việc đạo. Ông trở về đời

sống cư sĩ, tiếp tục cống hiến cho đạo pháp bằng cách viết bài, giảng giải giáo lý nhà Phật,

phổ biến tư tưởng nhập thế cho lớp trẻ. Ông từng tâm sự: “Tu hành là sự lựa chọn của tâm,

không nhất thiết phải ở chùa. Hộ quốc an dân, giúp đời, truyền đạo cũng là tu hành”.

Đại đức Thích Pháp Lữ là một trong những minh chứng sống động cho tinh thần

nhập thế đặc sắc của Phật giáo Việt Nam. Không rút vào cõi tĩnh lặng khi đất nước lâm

nguy, ông và những người bạn đồng hành năm xưa - các nhà sư Vệ quốc đoàn - đã làm nên

huyền thoại “cởi áo cà sa, khoác chiến bào”. Họ chiến đấu vì nghĩa lớn, nhưng tâm hồn

không rời Phật. Họ giết giặc cứu dân, nhưng lòng vẫn đầy từ bi. Họ mang theo ánh sáng trí

tuệ và tình thương của đạo Phật để soi đường trong những năm tháng khốc liệt của cuộc

chiến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn