Phật hoàng Trần Nhân Tông
Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam


Đức vua Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh năm Mậu Ngọ – 1258 vào ngày 11 tháng 11 âm lịch. Ngài là con trưởng của Đức Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Sử sách ghi lại rằng khi Ngài mới sinh ra đã có dung mạo của bậc thánh nhân, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, sắc thái như vàng ròng, nên được vua cha đặt cho tên hiệu là Phật Kim.
Lớn lên, năm 16 tuổi, Ngài được lập làm Hoàng Thái tử vào năm Giáp Tuất – 1274. Trong cùng năm đó, Ngài đã kết duyên cùng công chúa Quyên Thanh, là trưởng nữ của Hưng Đạo Đại Vương. Vua Trần Thánh Tông đã mời các bậc trưởng lão tinh thông Nho giáo, Tứ thư, Ngũ kinh và Phật giáo để dạy dỗ cho Ngài như Lê Phụ Trần, Nguyễn Thánh Huấn, Nguyễn Sĩ Cố… Chính Vua cha đã soạn sách Di Hậu Lục để dạy cho Thái tử cách xử thế chuẩn bị nối nghiệp sau này nên Ngài đã trở nên tinh thông cả Tam giáo.
Sử cũ cho biết, sau khi xuất gia không thành, trở về hoàng cung, ông thường ngủ trưa ở chùa Tư Phúc trong đại nội, nằm mơ thấy Phật vàng, từ đó ông thường ăn chay, nên long nhan gầy yếu. Thánh Tông biết chuyện khóc nói: “Ta nay già rồi, trông cậy một mình con, nếu con như vậy thì thịnh nghiệp của Tổ tông biết làm thế nào?”. Điều Ngự cũng rơi nước mắt”. Tuy nhiên trong giai đoạn từ 1278 đến 1293 chất Vua trong Nhân Tông còn nổi trội, tính Bụt từng bước hình thành, mặc dù hiểu biết về giáo lý Phật giáo trong ông đã khá sâu sắc. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, “Mùa hạ, tháng 6 (Ất Mùi, 1295), Thượng hoàng trở về kinh sư. Vì [trước] đã xuất gia ở hành cung Vũ Lâm rồi lại trở về”, và tính Bụt tạm thời phải lắng xuống vì Thượng hoàng còn phải gánh vác trọng trách của mình. Có thể thấy rằng, ở giai đoạn này Trần Nhân Tông thể hiện rõ mẫu hình “Thái thượng hoàng – Bụt”. Nhưng từ năm 1294, sau khi đi đánh Ai Lao về, tính Bụt có lúc đã trổi lên lấn át cả chất Vua. Bấy giờ, khi đất nước tạm yên, Trần Nhân Tông mới có điều kiện để toàn tâm toàn ý thực hiện ý nguyện của riêng mình, và tháng 8 năm Kỷ Hợi (1299), sau 14 năm làm vua, 8 năm làm Thái thượng hoàng, Nhân Tông đã quyết định xuất gia đầu Phật. Đây thực sự là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Trần Nhân Tông, nói đúng hơn là một gạch nối làm nên chỉnh thể Phật Hoàng (Vua – Phật).
Người đời sau luận bàn về chuyện xuất gia của Nhân Tông và cho rằng, đây là vấn đề không đơn giản, khó lý giải, bởi về mặt tư tưởng, như ta biết, Trần Nhân Tông chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Tuệ Trung Thượng Sĩ, và ông nội Thái Tông. Tuệ Trung là bác ruột đồng thời là bậc thầy của Nhân Tông, ông tu Phật nhưng không xuất gia và với một phong cách phóng khoáng, tự do tự tại, một tinh thần phá chấp triệt để; Thái Tông với quan điểm biện tâm, “hoát nhiên đại ngộ”, vì “trong núi không có Phật” nên chẳng cần xuất gia. Vậy mà Nhân Tông lại xuất gia vào trong thâm sơn cùng cốc để tu theo hạnh Đầu Đà, lạ thay! Thật ra, Nhân Tông đã nói rõ chủ trương vào núi của ông trong Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca là:
“Kiếm chốn dưỡng thân,
Vắng vẻ ngàn kia,
Thân long hỷ xả,
Thanh nhàn vô sự,
Quét tước đài hoa,
Thờ phụng Bụt Trời”.
Có thể hiểu rằng, tuy đã xuất gia nhưng không hẳn là Nhân Tông đã phủi hết bụi trần, mà gánh nặng trần thế cứ đè mãi lên vai. Giai đoạn từ năm 1299 trở đi, trong ông tính Bụt đã nổi trội, và ông với tư cách là Bụt – Thái Thượng hoàng, nhưng vì ở ông, Đạo và Đời luôn quyện chặt vào nhau không tách rời, do vậy, việc ông xuất gia và chọn Yên Tử chứ không phải là một nơi nào khác cũng giúp ta phần nào lý giải hiện tượng “phản logic” nói trên. Nhân Tông đã ngộ đạo từ khi được Tuệ Trung Thượng Sĩ ấn tâm trong dịp cư tang mẹ. Ý nguyện xuất gia đã có từ lâu và đã hai lần thực hiện. Lần thứ nhất lên Yên Tử vào năm 16 tuổi (Giáp Tuất, 1274), sự việc không thành, lúc này nhận thức chính trị của Thái tử chưa sâu sắc; lần thứ hai xuất gia vào năm Ất Mùi (1295) ở cung Vũ Lâm rồi lại quay về vì tình hình đất nước chưa yên. Và đây là lần thứ ba, lần xuất gia chính thức (năm Kỷ Hợi, 1299).
Cũng dễ hiểu khi ta biết rằng, thời gian ở Yên Tử, Thượng hoàng Nhân Tông thường lui tới những ngôi chùa nằm ở mạn Đông Bắc như chùa Báo Ân ở Siêu Loại, chùa Sùng Nghiêm ở Chí Linh, chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang,… Các ngôi chùa này tạo thành một thế cánh cung gần biên giới Việt Trung, trở thành một yếu lộ liên quan đến vận mệnh dân tộc, vì đây là hướng mà các đạo quân phương Bắc thường kéo vào xâm lược nước ta. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Yên Tử được xem là một “đài ra đa” hết sức lợi hại giúp ta thị sát tình hình, bởi từ trên đỉnh núi Yên Tử, phóng tầm nhìn có thể bao quát cả một vùng rộng lớn khu vực Đông Bắc nước ta.
Ngay từ khi mới lên Yên Tử, Nhân Tông đã tích cực chuẩn bị cho sự hình thành và phát triển của Giáo hội. Và trong suốt 4 năm (từ 1299 đến 1301), Nhân Tông tập trung cho việc tổ chức Giáo hội và thành lập Thiền phái Trúc Lâm. “Điều Ngự lập ra Chi đề Tinh xá, giảng pháp độ tăng. Người học về đây quy tụ khá đông. Sau đó, Điều Ngự mời các danh tăng về chùa Phổ MInh, phủ Thiên Trường lập ra trường giảng…” nhằm tạo ra những lớp người kế cận, đáp ứng yêu cầu phát triển của Giáo hội, đồng thời cho phát hành hàng loạt sách vở như Phật giáo pháp sự, Đạo tràng tân văn, Công văn cách thức,… nhằm định hướng cho sự thống nhất về thể thức hoạt động tôn giáo đối với các tông phái cũng như các khuynh hướng Phật giáo khác nhau.
Thời Lý như ta biết, ba dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, và Thảo Đường cùng tồn tại và có quan hệ mật thiết với nhau, tác động ảnh hưởng lẫn nhau. Chốn tổ của dòng thiền này cũng là nơi tu hành của dòng thiền khác, Thiền sư của các phái đều tôn trọng và học hỏi lẫn nhau. Đây là hiện tượng đặc biệt và có thể xem là cơ sở cho sự hòa nhập giữa ba dòng thiền để hình thành nên một thiền phái thống nhất Trúc Lâm Yên Tử và trên cơ sở đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ra đời. Phật giáo Việt Nam đã trở thành “nhất tông”. Lần đầu tiên trong lịch sử, Phật giáo Việt Nam thống nhất từ trung ương đến địa phương. Tăng chúng trong cả nước đều được cấp tăng tịch[14].
Điều Ngự thực hiện chủ trương mở rộng công cuộc giáo hóa. Năm 1301, ông sang thăm Chiêm Thành. Sau khi cơ bản giải quyết xong mối bang giao với láng giềng phía nam, năm 1304, với tư cách một đạo sư, Điều Ngự đi khắp nơi trong nước, tận các xóm làng, dạy cho dân thực hành Thập thiện và xóa bỏ các dâm từ, một “giáo lý nhập thế căn bản của Đạo Phật đặt trên nền tảng của ba nghiệp: Thân – Khẩu – Ý của con người. Từ ba nghiệp tạo nên một mẫu người đạo đức lý tưởng và hài hoà, những con người ấy sẽ tạo thành một xã hội tốt đẹp, xoá bỏ được những tệ nạn tràn lan. Việc làm của Ông phản ánh nguyện vọng của dòng Thiền Trúc Lâm muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng luân lý Phật giáo. Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Nhà Vua và hoàng tộc đều là Phật tử tại gia và xuất gia. Và các dòng phái Phật giáo bấy giờ hội tụ thống nhất trong dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sự kiện này là đỉnh cao của Phật giáo đời Trần”.
Hoạt động thuyết pháp của Nhân Tông được nhân dân đón nhận nhiệt thành và nhiều người đã trở thành đệ tử của ông, ai cũng mong được đích thân ông chứng đạo cho. Danh tiếng của Điều Ngự ngày mỗi lan rộng khắp cả nước, ngay cả những bậc thức giả đương thời cũng ngưỡng mộ và gia nhập tăng đoàn. Vua Trần Anh Tông cũng dâng biểu mời Điều Ngự vào đại nội để thọ giới tại gia Bồ Tát cho vua và quan lại trong triều. “Ngày vào thành, vương công, bá quan sắm lễ nghi đầy đủ đón rước xa giá của Điều Ngự, rồi cùng thọ giới pháp. Sau đó, Điều Ngự trác tích tại chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh, xiển dương Thiền chỉ”. Đại Việt bấy giờ là một đất nước Phật giáo, triều đình nhà Trần cũng là một triều đình Phật giáo. Từ vua đến quan và cả dân chúng, sống và làm việc theo tinh thần Phật giáo. Có thể thấy, trong phương thức giáo hóa, Trần Nhân Tông đã đạt đến một mức hoàn hảo. “Trúc Lâm đã tạo ra được một khả năng giáo hóa cho hết thảy mọi người, từ bậc thức giả đến người dân nghèo khổ nơi thôn cùng ngõ hẻm. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi Trần Nhân Tông kế thừa một cách thành công từ những gì mà các vị tiền bối đã làm được và phát triển một cách sáng tạo”.
Những năm cuối đời, Trần Nhân Tông dồn hết tâm sức cho việc hóa đạo và chuẩn bị nhân sự cho Giáo hội. Ông đã chọn Pháp Loa để trao truyền y bát và tâm kệ, đồng thời chọn Huyền Quang làm thị giả cho mình. Sau lễ truyền đăng cho Pháp Loa, sức khỏe của Điều Ngự suy giảm nhanh chóng. Nửa đêm ngày mồng một tháng 11, sau khi trả lời những câu hỏi của Bảo Sát xong, Điều Ngự nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch, hưởng thọ 51 tuổi. Bảo Sát phụng di chúc hỏa thiêu Điều Ngự tại Ngọa Vân am. Vua Anh Tông dâng tông hiệu là Đại Thánh Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tỉnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật, cho đúc hai tượng vàng để thờ ở chùa Báo Ân tại Siêu Loại và chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Pháp Loa trở thành người nối pháp Trúc Lâm, là Đệ Nhị Tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và là người kế vị Giáo chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Sau khi Pháp Loa viên tịch, Thiền sư Huyền Quang Lý Đạo Tái trở thành Đệ Tam Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Nghiên cứu nội dung tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ta thấy nổi lên mấy điểm cơ bản:
▪ Tư tưởng “Tâm không” – cốt tủy của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đóng vai trò chủ đạo trong Phật giáo thời Trần. Trong Chân Thiền Zen, Taisen Deslimaru viết: “Thiền học là triết lý về không. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là tinh hoa, là “tâm” của 600 quyển kinh nói về lý không và chính nó tượng trưng cho trí tuệ tối thượng của Đức Phật”. “Không” theo tinh thần Phật giáo nói chung, Thiền tông nói riêng không có nghĩa là không có gì cả, mà nó là vừa hữu vừa vô, vừa không hữu vừa không vô,… nghĩa là luôn ở trong trạng thái không đối lập, không mâu thuẫn; tức ở trạng thái vô sở trụ, vô chấp.
Các Thiền sư thời Trần quan niệm bản thể vũ trụ vốn là cái chân như (Bản thể như như chỉ tự nhiên), không tâm, không tướng, không hình, không thể nhận thấy, cũng không thể nói ra, không thể dùng ngôn từ để miêu tả, không thể dùng trí mà hiểu biết được. Nhưng nó cũng không phải là “ngoan không” (không trống vắng). Còn “Tâm” là cái bao trùm, là cái chất của vạn pháp. Vì vậy, “Phật và chúng sinh đều cùng một bản thể là tâm, tức cùng một bộ mặt (“Phật dữ chúng sinh tô nhất diện”). Khi tâm con người mở rộng, bao chứa được tâm của vạn pháp, khi đó đạt đến tâm Phật, là giác ngộ, là giải thoát”. Tư tưởng này đã thể hiện rõ trong kinh Kim Cang: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà Huệ Năng đã sớm đắc ngộ để rồi trở thành Lục Tổ của Thiên tông.
Giải thoát là một trạng thái “Tâm không”, nghĩa là trong đó chứa đựng mọi thứ nhưng không chấp gì cả, tức trạng thái bất nhị nguyên, vong nhị kiến, từ đó mà liễu sanh tử. Trần Nhân Tông hiểu rõ triết lý “Tâm không” và thực hành ngay trong cuộc sống mà ông đang sống. Là một ông vua, một Thái thượng hoàng nhưng với tinh thần phụng sự chúng sinh, nên cũng như các bậc tiên đế, ông sẵn sàng quên mỉnh để lo cho dân, cho nước. Triết lý “Tâm không” trở thành tinh thần cốt tủy của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, là tư tưởng chủ đạo của Phật giáo thời Trần. Tinh thần đó đã lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội Đại Việt thời này.
▪ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là dòng thiền mang tính thống nhất quốc gia, chi phối mạnh mẽ đời sống xã hội thời Trần. “Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã có tác dụng cố kết các tông phái Phật giáo đương thời ở nước ta, tạo điều kiện cho Phật giáo thời Trần trở thành Phật giáo nhất tông. Đây là nét độc đáo, đóng góp to lớn của nhà Trần nói chung, của Phật giáo thời Trần nói riêng đối với lịch sử dân tộc và đối với Phật giáo Việt Nam”. Trúc Lâm Yên Tử đã nhanh chóng trở thành trung tâm Phật giáo của cả nước, có sức thu hút mạnh mẽ mọi tầng lớp về đây tu học và tạo nên một sắc thái mới của nền văn hóa Việt Nam.
▪ Phật giáo thời Trần, nhất là buổi đầu thời Trần đã phát triển mạnh mẽ, thậm chí được coi là đỉnh cao của sự phát triển trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, các vua Trần là các đệ tử thuần thành của nhà Phật, thế nhưng, với tinh thần phóng khoáng, tự do và viên dung nhất quán của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, các nhà lãnh đạo quốc gia –Giáo hội không muốn biến đạo Phật thành tôn giáo độc tôn và chèn ép, bài xích các tôn giáo khác. Ngược lại, đạo Phật thời này đã tỏ ra rất cởi mở và bao dung đối với các giáo khác như Nho giáo và Lão giáo, thậm chí các nhà lãnh đạo quốc gia còn khuyến khích và tạo điều kiện cho Nho giáo và Lão giáo phát triển trong tinh thần viên dung tam giáo. Tinh thần đó đã được Điều Ngự Giác Hoàng nói rõ trong Cư trần lạc đạo phú:
“… Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục;
Nhắm trường sinh, về thượng giới thuốc thỏ còn đam,
Sách dịch xem chơi, yêu tánh sáng yêu hơn châu báu,
Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim” .
▪ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử chủ trương Thiền – Giáo đồng hành. Theo truyền thống, Thiền chủ trương giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, thế nhưng Thiền học thời này lại đặt nền tảng trên kinh điển, Thiền và Giáo không tách rời nhau, tu học luôn đồng hành. Có thể xem đây là một trong những đặc điểm cơ bản của Phật giáo thời Trần nói chung, của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng, nó tạo nên sự dung hợp, nhất quán, không xảy ra tình trạng cực đoan, cố chấp, mâu thuẫn giữa Giáo và Thiền. Đó cũng chính là cơ sở để tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.
▪ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã tạo nên cho Phật giáo thời này xu thế hướng nội sâu sắc và tinh thần nhập thế tích cực. Câu nói “Trong núi không có Phật, Phật tại tâm mình” mà Quốc sư Phù Vân chỉ ra đã được vua Trần Thái Tông lĩnh hội để rồi tạo nên một xu thế biện tâm và được Trần Nhân Tông tiếp nối, phát triển lên một bước. Tinh thần đó được thể hiện rõ nét trong Cư trần lạc đạo phú:
“Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Ðối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”.
(Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên
Đói cứ ăn đi, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu, thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền).
(Lê Mạnh Thát dịch)
Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa, nhân khuây bản nên ta tìm Bụt; đến mới hay chính Bụt là ta. Đó là Phật giáo hướng nội, lấy Tâm làm tiêu đích cho sự giải thoát. Tinh thần “Phật giáo hướng nội biện tâm là Phật giáo mang tính chất bình đẳng không phân biệt là tăng hay tục, là xuất gia hay tại gia, không phân biệt là sống giữa đời hay sống ẩn dật trong rừng, không phân biệt là tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, chỉ cốt biện tâm. Hãy quay đầu lại, nhìn vào bên trong nội tâm, nếu có thể quay ánh sáng phản chiếu lại nội tâm mình, thì sẽ thấy được tánh mà thành Phật, tức kiến tánh thành Phật. Đây là Phật giáo của mọi người và mọi người có thể hành trì được ở bất kỳ nơi đâu, lúc nào. Đó chính là cơ sở tạo nên sức mạnh của Phật giáo – Thiền thời Trần”.
Quan điểm của các nhà lãnh đạo Giáo hội và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Đạo bất viễn nhân. Đạo phải được thể nghiệm ngay trong lòng cuộc đời, không thể xa rời chúng sinh mà phải lấy lấy chúng sinh làm đối tượng phụng sự, và xem đó là môi trường thiết yếu cho sự hành Thiền. Với tinh thần đó mà các vị vua đầu thời Trần đã lấy ý muốn của nhân dân làm ý muốn của mình. Bởi vậy, khi đất nước lâm nguy, họ đã lên ngựa cầm quân ra trận, xông pha trận mạc, giết giặc để cứu nguy cho nước, cho dân. Đó là tinh thần nhập thế sâu sắc của Phật giáo thời này. Tinh thần đó đã giúp cho các ông vua – Thiền sư cũng như các vị Thiền sư khác như Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông,… đã nhập thế một cách tích cực. Các vị đã xuất thế ngay giữa cuộc đời bụi bặm và lạc đạo một cách ung dung. Có thể khẳng định rằng, tính chất nhập thế tích cực là yếu tố có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển của Phật giáo thời Trần.
▪ Thiền phái Trúc Lâm yên Tử đã thể hiện tinh thần độc lập, tự tín tự cường và tinh thần thâu hóa sáng tạo. Cùng với sự độc lập về chính trị là sự độc lập về văn hóa. Đó là yêu cầu của lịch sử đặt ra cho dân tộc ta. Vì vậy, bên cạnh những cuộc đấu tranh giữ nước mang đậm màu sắc dân tộc và tính nhân dân, nền văn hóa thời kỳ này cũng phát triển với những nét độc đáo thể hiện bản sắc dân tộc sâu sắc. “Về mặt tôn giáo, tuy có tiếp thu ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, nhưng các Thiền sư Việt Nam, đặc biệt là Tam Tổ Trúc Lâm qua thời gian đã khéo léo vận dụng, dung hợp những ảnh hưởng đó với truyền thống dân tộc để tạo nên một nền Phật giáo thống nhất và mang tính chất độc lập tự chủ”. Các vị đã rút tỉa những tinh hoa từ Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa để kết tinh thành nền Phật giáo với những nét rất riêng. “Tư tưởng biện tâm của Phật giáo Việt Nam đã khiến cho các tín đồ có lòng tự tín mãnh liệt vào khả năng đắc chứng của bản thân mình, đó là một chân lý”. Trần Nhân Tông từng tuyên bố rằng,
“Buông lửa giác ngộ, đốt hoại thảy rừng tà ngày trước;
Cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tánh thức thuở nay”.
Đó là chân lý của cuộc đời, là triết lý nhân sinh mà không phải ai cũng ngộ được. Triết lý ấy nói lên rằng, chinh phục được tha nhân



