Phi công anh hùng - Trung tướng Nguyễn Đức Soát
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đức Soát là một trong những “phi công huyền thoại” của Không quân Việt Nam. Ông sinh ngày 24/6/1946 tại Nam Phong, Phú Xuyên, Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội),
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đức Soát là một trong những “phi công huyền thoại” của Không quân Việt Nam. Ông sinh ngày 24/6/1946 tại Nam Phong, Phú Xuyên, Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội), nhập ngũ ngày 4/7/1965. Trong sự nghiệp quân ngũ, ông là phi công tiêm kích xuất sắc, làm chủ nhiều loại máy bay hiện đại như MiG-21, Su-22, Su-27. Từ một chiến sĩ học bay, Nguyễn Đức Soát đã trở thành một trong những phi công có khả năng xạ kích giỏi nhất, trực tiếp bắn hạ 6 máy bay Mỹ và được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND khi mới 27 tuổi. Sau chiến tranh, ông đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng như Tư lệnh Quân chủng Không quân, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Cùng với các phi công nổi tiếng như Vũ Đình Rạng, Vũ Xuân Thiều, Lê Thanh Đạo, Phạm Tuân…, Nguyễn Đức Soát trở thành biểu tượng của một thế hệ phi công anh hùng. Cuốn “Nhật ký phi công tiêm kích” do ông công bố khi đã ở tuổi ngoài 70 đã đưa người đọc trở về với những năm tháng thanh xuân sôi nổi của một thế hệ “sinh ra để bay lên, thuộc về bầu trời”. Nhật ký được viết từ ngày 20/3/1966, khi ông đang học bay tại Liên Xô, kéo dài đến ngày 31/12/1972 – sau khi Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền Bắc. Dù một phần nhật ký đã thất lạc, những trang còn lại vẫn phản ánh trung thực suy nghĩ, lý tưởng, khát vọng cống hiến và tinh thần trách nhiệm của lớp thanh niên thời chiến.
Qua nhật ký, người đọc cảm nhận rõ niềm đam mê bay lượn, quyết tâm làm chủ kỹ thuật, những chiến công oanh liệt xen lẫn mất mát đau thương của các phi công trẻ tuổi trong cuộc đối đầu không cân sức với không lực hiện đại của Mỹ. Những đóng góp ấy đã góp phần quan trọng cùng quân và dân miền Bắc đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại, ghi dấu mốc son chói lọi cho Không quân Việt Nam thời kỳ đầu còn non trẻ.
Trong chiến đấu, Nguyễn Đức Soát lập nhiều chiến công tiêu biểu. Ngày 13/3/1969, ông bắn rơi máy bay trinh sát không người lái của Mỹ. Đặc biệt, năm 1972 là dấu mốc rực rỡ trong sự nghiệp chiến đấu của ông: ngày 23/5 bắn hạ chiếc A-7B của Hải quân Mỹ; ngày 24/6 – đúng sinh nhật – bắn rơi chiếc F-4E; ba ngày sau tiếp tục hạ một chiếc F-4E khác; ngày 26/8 bắn rơi chiếc F-4J duy nhất của Thủy quân lục chiến Mỹ trong chiến tranh Việt Nam; và chiến công cuối cùng là ngày 12/10/1972 khi bắn hạ thêm một chiếc F-4E.
Bên cạnh tài năng, Nguyễn Đức Soát luôn thể hiện tinh thần quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Ngay từ năm 1969, ông đã viết trong nhật ký quyết tâm chiến đấu đến cùng, không ngần ngại hy sinh nếu Tổ quốc cần. Nhìn lại chặng đường đã qua, ông cho rằng sức mạnh của Không quân không chỉ nằm ở trang bị kỹ thuật mà quan trọng hơn là ở đội ngũ phi công quả cảm, giỏi chuyên môn và những người chỉ huy bản lĩnh, trách nhiệm. Sau chiến tranh, ông còn chủ động đề xuất tổ chức các cuộc gặp giữa cựu phi công Mỹ và Việt Nam từng tham chiến, góp phần hàn gắn, khép lại quá khứ và hướng tới hòa bình.



